09:34 | 26/09/2019

Khu vực trung du và miền núi phía Bắc: Nơi đồng vốn Agribank thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Trên địa bàn khu vực trung du và miền núi phía Bắc hiện nay, Agribank đang triển khai 4 chương trình chính sách và 1 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, đều đạt được những kết quả khả quan. 

Gieo vốn trên miền đất võ
Chung tay gỡ khó cho người trồng hồ tiêu
Agribank là ngân hàng luôn giữ vai trò chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn

Phát huy vai trò chủ lực

Khu vực trung du và miền núi phía Bắc bao gồm 14 tỉnh, với tổng diện tích chiếm 28,75% diện tích của cả nước, là nơi sinh sống của trên 30 dân tộc, khu vực có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của cả nước.

Thời gian qua, bám sát chủ trương, định hướng của Đảng và Chính phủ về phát triển vùng trung du và miền núi phía Bắc, NHNN đã nghiên cứu, ban hành, triển khai các chương trình, chính sách tín dụng ngân hàng, các gói, sản phẩm cho vay ưu đãi phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng cho các lĩnh vực ưu tiên, đối tượng chính sách tại khu vực, góp phần thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị của địa phương.

Đến 31/7/2019, tổng nguồn vốn huy động tại khu vực đạt 381.603 tỷ đồng, tăng 9,08% so với 31/12/2018, dư nợ tín dụng đạt 409.552 tỷ đồng, tăng  4,87% so với cuối năm 2018. Trong đó, dư nợ một số chương trình tín dụng dành cho các ngành, lĩnh vực, lĩnh vực ưu tiên như tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 148.312 tỷ đồng, tăng 2,39% so với 31/12/2018...

Agribank là ngân hàng luôn giữ vai trò chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn và có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế của cả nước. Tổng giám đốc Agribank Tiết Văn Thành cho biết, hiện nay, tại khu vực Trung du và miền núi phía Bắc Agribank đang có 17 chi nhánh loại I hoạt động trên địa bàn 14 tỉnh với tổng nguồn vốn đạt 129.940 tỷ đồng, tổng dư nợ đạt trên 130.000 tỷ đồng, chiếm 13% tổng dư nợ nền kinh tế của Agribank, dư nợ cho vay tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực như: nông nghiệp, tiêu dùng, thương nghiệp dịch vụ…

Trên địa bàn khu vực trung du và miền núi phía Bắc hiện nay, Agribank đang triển khai 4 chương trình chính sách và 1 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, đều đạt được những kết quả khả quan. Cụ thể, cho vay nông nghiệp nông thôn đạt trên 104.529 tỷ đồng chiếm 78,4% tổng dư nợ nền kinh tế của khu vực, đạt 15% dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn toàn quốc của Agribank.

Chương trình tín dụng chính sách được Agribank tập trung ưu tiên triển khai với kết quả cho vay luôn tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước. cho vay theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP.

Thông qua quyết sách lớn này, Agribank đã đưa ra những chính sách ưu đãi hơn đối với khách hàng trên địa bàn nông nghiệp nông thôn như mức cho vay không bảo đảm đối với từng đối tượng khách hàng, góp phần đẩy mạnh đầu tư tín dụng trên địa bàn nông thôn.

Còn với Chương trình cho vay ưu đãi lãi suất theo chương trình hỗ trợ các huyện nghèo tại Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, hiện dư nợ còn lại tại địa bàn 5 tỉnh Lào Cai, Bắc Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Phú Thọ với dư nợ đạt trên 546 tỷ đồng với 12.024 khách hàng chiếm 40,3% dư nợ cho vay theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP toàn hệ thống Agribank.

Việc triển khai đầu tư xây dựng các công trình từ nguồn vốn hỗ trợ của Agribank đã hỗ trợ thiết thực cho các tỉnh khu vực trung du miền núi phía Bắc phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực, qua đó tạo điều kiện cho các địa phương phát triển kinh tế-xã hội và xoá đói giảm nghèo nhanh, bền vững…

Một chương trình tín dụng chính sách trọng điểm được Agribank ưu tiên dành nguồn vốn lớn để triển khai có hiệu quả là chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Hiện, Agribank triển khai tích cực trên địa bàn khu vực trung du và miền núi với dư nợ cho vay đạt trên 33.055 tỷ đồng với gần 245.280 khách hàng.

Việc chú trọng đầu tư cho vay xây dựng nông thôn mới của Agribank tại khu vực này đã thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của người dân, giải quyết vấn đề việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, hoàn thành các tiêu chí của Chương trình xây dựng nông thôn mới, góp phần cải thiện đời sống của người dân ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Hơn hết, nguồn vốn tín dụng của Agribank đã giúp người dân mạnh dạn mở rộng đầu tư, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, đem lại hiệu quả kinh tế cao, giúp người dân tự vươn lên xoá đói giảm nghèo.

Không chỉ tiên phong cho triển khai các chương trình tín dụng chính sách, thể hiện quyết tâm cùng ngành Ngân hàng đẩy lùi tín dụng đen, Agribank tiên phong thực hiện chương trình tín dụng tiêu dùng. Với quy mô vốn tối thiểu 5.000 tỷ đồng để cho vay mục đích tiêu dùng hợp pháp, cấp bách, mức cho vay tối đa là 30 triệu đồng, thủ tục nhanh gọn giải quyết trong 1 ngày làm việc, hướng tới rộng rãi đối tượng khách hàng là khách hàng tại khu vực nông nghiệp, nông thôn góp phần đẩy lùi vấn nạn tín dụng đen, Agribank kỳ vọng đáp ứng nhanh nhất nhu cầu vốn đột xuất của người dân, tạo thuận lợi tối đa để người dân kể cả vùng sâu, vùng xa, khu vực kinh tế khó khăn dễ dàng tiếp cận vốn vay và dịch vụ ngân hàng.

Tuy mới triển khai từ đầu năm, nhưng chương trình tín dụng tiêu dùng này bước đầu đã thấy rõ hiệu quả. Đến nay, doanh số cho vay lũy kế từ đầu năm của khu vực trung du và miền núi phía Bắc đạt 685 tỷ đồng, dư nợ đạt 265 tỷ đồng (12.453 khách hàng) chiếm 29% dư nợ cho vay trên toàn quốc theo chương trình này.

Ông Tiết Văn Thành - Tổng Giám đốc Agribank chia sẻ: ngoài chương trình  đầu tư vốn cho khu vực nông nghiệp - nông thôn, các chi nhánh của Agribank cũng rất tích cực, chủ động tham gia các chương trình chính sách đặc thù tại mỗi địa phương nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế của địa phương, nhất là địa bàn nông nghiệp, nông thôn với dư nợ của 11 chương trình tại 5 địa phương đạt 815 tỷ đồng với 9.823 khách hàng…

Kiên trì cõng vốn lên vùng cao

Lãnh đạo Agribank cho biết, ngân hàng tiếp tục kiên trì cõng vốn lên vùng cao với hướng đi mới để giúp khu vực trung du, miền núi phía Bắc vươn lên thoát nghèo. Để hiện thực hóa mong mỏi đó, trong thời gian tới, Agribank tiếp tục thực hiện chính sách cho vay các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các lĩnh vực ưu tiên khác theo chỉ đạo của Chính phủ; duy trì dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế.

Song song với đó, đa dạng hóa cơ cấu tín dụng theo ngành nghề, lĩnh vực và đối tượng khách hàng, đảm bảo tăng trưởng về quy mô phù hợp với cân đối vốn, gắn với kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng; xử lý và kiểm soát nợ xấu có hiệu quả, hạn chế nợ xấu phát sinh.

Agribank tiếp tục triển khai và thực hiện tốt Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 25/4/2019 của Thủ tướng Chính phụ về tăng cường phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động “tín dụng đen”; một mặt, ngân hàng tăng cường phối hợp chặt chẽ với Hội Nông dân, Hội Phụ nữ các cấp, cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai các giải pháp mở rộng tín dụng cho vay qua tổ nhóm, áp dụng phương thức cho vay hạn mức tín dụng đối với hộ gia đình sản xuất kinh doanh có nghề nghiệp ổn định, có phương tiện chuyển tải nguồn vốn đáp ứng nhu cầu của người dân nhằm giảm tải và tăng hiệu quả làm việc của cán bộ tín dụng, góp phần hạn chế tín dụng đen.

Mặt khác, Agribank nỗ lực tăng cường công tác chỉ đạo điều hành, kiểm tra, giám sát quy trình, nghiệp vụ đối với hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân, tổ vay vốn. Nhất là tập trung chú trọng các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, chất lượng thẩm định và kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay nhằm phát hiện sớm sai sót, những vấn đề tiềm ẩn rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng.

Cùng với đó là việc nâng cao chất lượng phục vụ, chăm sóc khách hàng, phát triển khách hàng mới trong kinh doanh dịch vụ, tập trung triển khai các biện pháp nhằm hoàn thành tốt kế hoạch dịch vụ được giao. Agribank cũng xác định bên cạnh hoạt động kinh doanh hiệu quả cần thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị và truyền thông nhằm quảng bá thương hiệu và sản phẩm dịch vụ...

Tăng cường ưu tiên nguồn vốn thông qua các chương trình tín dụng chính sách cho thấy vai trò huyết mạch của vốn tín dụng chính sách đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng và đất nước, Agribank đang thể hiện nỗ lực chung tay cùng ngành Ngân hàng thực hiện tốt việc cung ứng kịp thời nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của người dân với mong muốn tháo gỡ khó khăn, giúp người dân có điều kiện chuyển đổi, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thoát nghèo và vươn lên làm giàu trong cuộc sống.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.115 23.265 25.580 26.485 29.483 29.985 205,48 219,80
BIDV 23.145 23.265 25.654 26.405 29.550 30.112 207,71 214,54
VietinBank 23.136 23.266 25.577 26.412 29.450 30.090 210,59 216,59
Agribank 23.145 23.255 25.487 25.879 29.437 29.920 210,88 214,73
Eximbank 23.140 23.250 25.598 25.952 29.595 30.004 211,83 214,76
ACB 23.130 23.255 25.607 25.960 29.652 29.985 212,03 214,95
Sacombank 23.103 23.263 25.611 26.063 29.639 30.044 211,06 215,58
Techcombank 23.134 23.274 25.364 26.360 29.277 30.200 210,41 217,59
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.536 26.011 29.626 30.065 211,35 215,28
DongA Bank 23.160 23.250 25.620 25.940 29.590 29.990 208,40 214,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.470
41.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.470
41.750
Vàng SJC 5c
41.470
41.770
Vàng nhẫn 9999
41.470
41.920
Vàng nữ trang 9999
40.950
41.750