14:57 | 18/05/2018

Lạm phát yếu khiến NHTW Nhật chưa thể từ bỏ chính sách nới lỏng

Tăng trưởng giá tiêu dùng lõi (CPI lõi) của Nhật đã chậm lại tháng thứ 2 liên tiếp trong tháng 4, cho thấy áp lực lạm phát vẫn rất yếu ớt và điều đó càng khiến NHTW Nhật (BOJ) càng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đạt được mục tiêu lạm phát 2% của mình.

Thống đốc NHTW Nhật: Nới lỏng tiền tệ vẫn còn cần thiết
NHTW Nhật giữ nguyên chính sách kích thích và có thể duy trì khá lâu
Ngân hàng Trung ương Nhật

Cụ thể CPI lõi (bao gồm các giá các sản phẩm dầu nhưng không bao gồm chi phí thực phẩm tươi sống) chỉ tăng 0,7% trong tháng 4 so với năm trước, thấp hơn một chút so với dự báo trung bình của thị trường là tăng 0,8%.

Mức tăng này cũng thấp hơn nhiều so với mức tăng 0,9% trong tháng 3 và ghi nhận tháng thứ 2 liên tiếp lạm phát giảm tốc, bất chấp giá dầu thô tăng mạnh trong thời gian gần đây đã góp phần đẩy tăng giá điện và xăng.

Trong khi đó, tốc độ tăng của CPI cơ bản (đã loại bỏ tác động chi phí năng lượng và thực phẩm tươi sống) – một chỉ số được BOJ theo dõi chặt chẽ - cũng giảm xuống mức 0,4% từ mức 0,5% trong tháng 3.

Lạm phát tiếp tục giảm tốc trong tháng 4 là điều đặc biệt không được hoan nghênh đối với BOJ, cơ quan vốn hy vọng các công ty sẽ vội vã tăng giá vào đầu năm tài chính mới. Mặc dù việc giá dầu tăng mạnh gần đây có thể làm tăng giá cả, song các nhà phân tích dự báo mục tiêu lạm phát của BOJ sẽ không đạt được trong những năm tới do tăng trưởng chậm và tiêu thụ yếu.

“Các công ty vẫn thận trọng trong việc tăng giá”, Yoshiki Shinke - chuyên gia kinh tế tại Viện nghiên cứu cuộc sống Dai-ichi cho biết. “Giá tăng đối với hàng hóa phi năng lượng có thể vẫn còn chậm, vì vậy chúng tôi không thể mong đợi CPI lõi tăng tốc nhiều”, ông nói thêm rằng lạm phát giá tiêu dùng cốt lõi có thể sẽ giảm dưới 1% trong thời gian này.

Theo các nhà phân tích, sự chậm lại của lạm phát, xuất hiện trong quý đầu tiên cho thấy nền kinh tế có thể đã đạt đến đỉnh điểm, và điều đó có thể ngăn cản các nhà hoạch định chính sách của BOJ phát đi tín hiệu về việc chấm dứt chính sách tiền tệ cực kỳ lỏng lẻo của mình. Theo đó, nền kinh tế Nhật Bản đã bị thu hẹp nhiều hơn dự kiến ​​vào đầu năm nay, cho thấy tăng trưởng đã đạt đỉnh điểm sau khi hoạt động mở rộng tốt nhất trong nhiều thập kỷ.

Còn nhớ tại cuộc họp chính sách tháng trước, BOJ đã loại bỏ thời hạn để đạt được mục tiêu lạm phát và Thống đốc Haruhiko Kuroda thừa nhận rằng việc thúc đẩy kỳ vọng lạm phát sẽ mất thêm nhiều thời gian.

Gần một nửa các nhà kinh tế được Reuters thăm dò trong tháng này không cho rằng BOJ sẽ thay đổi chính sách tiền tệ cực kỳ lỏng lẻo cho đến năm 2020 hoặc muộn hơn, do lạm phát chậm chạp.

“Áp lực giá cả yếu ớt trên diện rộng trong tháng Tư nhấn mạnh rằng BOJ sẽ không thể sớm thắt chặt chính sách tiền tệ trong thời điểm hiện nay”, Marcel Thieliant – chuyên gia kinh tế cao cấp tại Capital Economics cho biết. “Chúng tôi dự báo tăng trưởng GDP sẽ chậm lại trong năm nay”.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
6,00
6,00
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,90
5,90
5,90
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,50
4,50
5,10
5,80
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.155 23.245 26.240 26.976 29.547 30.021 209,79 220,20
BIDV 23.155 23.245 26.226 26.599 29.558 30.026 210,47 214,10
VietinBank 23.143 23.243 26.180 26.970 29.496 30.056 210,46 214,21
Agribank 23.150 23.240 26.216 26.592 29.566 30.023 210,45 214,10
Eximbank 23.140 23.240 26.249 26.601 29.597 29.994 212,09 214,93
ACB 23.160 23.240 26.258 26.596 29.640 29.947 212,25 214,99
Sacombank 23.157 23.259 26.293 26.657 29.630 29.984 212,32 215,42
Techcombank 23.135 23.245 26.005 26.723 29.212 30.042 210,90 216,50
LienVietPostBank 23.140 23.240 26.195 26.658 29.607 29.023 211,65 215,51
DongA Bank 23.160 23.230 26.270 26.570 29.560 29.930 211,00 215,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.490
36.690
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.490
36.670
Vàng SJC 5c
36.490
36.690
Vàng nhẫn 9999
36.370
36.770
Vàng nữ trang 9999
35.920
36.620