10:55 | 06/12/2018

Muốn đạt khát vọng, phải vượt chông gai

Hành trình trở thành một nền kinh tế hiện đại của Việt Nam mới chỉ bắt đầu và những thành tựu trong quá khứ không đảm bảo cho sự thành công trong tương lai.

VBF 2018: Khắc phục trở ngại đối với doanh nghiệp
Mấu chốt cải cách môi trường kinh doanh: Thực thi nghiêm chính sách
Môi trường kinh doanh: Doanh nghiệp kỳ vọng cải cách hơn nữa

Tầm nhìn

Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam (VRDF) vừa chính thức diễn ra tại Hà Nội ngày 5/12. Sự kiện thường niên này đã trở thành quen thuộc đến nỗi dù có những thay đổi về tên gọi thì mọi người vẫn thường hiểu nội dung chính là những đối thoại chính sách hàng năm giữa Chính phủ Việt Nam và các đối tác phát triển.

Nhưng thực chất không chỉ tên gọi mà những nội dung thảo luận bên trong cũng có những thay đổi đáng kể. Theo đó, thay vì hoạt động đối thoại đơn thuần giữa các đối tác phát triển với Chính phủ Việt Nam như các kỳ diễn đàn trước đây, VRDF vừa qua còn có sự tham gia của đông đảo các đại diện của khu vực tư nhân, giới học giả, chuyên gia đến để chia sẻ quan điểm và đề xuất của họ.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu tại Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam (VRDF) năm 2018

Điều đó cho thấy cùng với quá trình tăng trưởng nhanh, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình (TNTB) và tiếp tục phát triển mạnh mẽ của Việt Nam, sự hỗ trợ, hợp tác của các đối tác phát triển với Việt Nam cũng có những chuyển biến về chất. Từ chỗ đơn thuần là một hội nghị mà ở đó, điều mà mọi người quan tâm và mong chờ nhất là con số viện trợ cho Việt Nam là bao nhiêu (khi Diễn đàn còn tên gọi là CG Meeting), nay hội nghị đã trở thành một diễn đàn mà các đối tác mong mỏi ở Việt Nam hơn ở những nỗ lực dành cho phát triển (Diễn đàn Phát triển Việt Nam - VDF).

Đặc biệt, với bối cảnh thực tiễn mới của một thế giới đang thay đổi nhanh chóng, tác động ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng của cuộc CMCN 4.0 cũng như một mô hình kinh tế khi tăng trưởng đã đến ngưỡng, thậm chí vượt ngưỡng tiềm năng, một yêu cầu tất yếu đặt ra là phải thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu lại nền kinh tế, tìm những động lực tăng trưởng mới để tiếp tục có được tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.

Do đó, dù vẫn là tiếp nối VDF nhưng diễn đàn từ năm nay được đổi tên thành “VRDF”, ẩn trong đó là kỳ vọng sẽ có nhiều cải cách hơn nữa diễn ra. Điều này xem ra cũng rất phù hợp với thời điểm hiện nay, khi CPTPP chuẩn bị có hiệu lực và EVFTA dự kiến cũng sẽ sớm được phê chuẩn và có hiệu lực trong đầu năm tới - những FTA chất lượng cao và đòi hỏi Việt Nam phải có những nỗ lực cải cách rất lớn, đặc biệt là cải cách thể chế.

Phát biểu tại Diễn đàn, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng cho biết sau 30 năm “Đổi mới”, diện mạo kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi, đời sống người dân được cải thiện và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Đến hết năm 2017, quy mô dân số đạt khoảng 94 triệu người, đứng thứ 14 trên thế giới; quy mô nền kinh tế đạt khoảng 224 tỷ USD, xếp thứ 45 (nếu tính theo giá trị sức mua tương đương (PPP) thì quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2017 đạt 647 tỷ USD, xếp thứ 33 trên thế giới).

Nhưng hiện nay CMCN 4.0 đang diễn ra nhanh chóng và có tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, làm thay đổi mạnh mẽ từ tổ chức sản xuất, cung ứng dịch vụ, phương thức kinh doanh đến cách thức tiêu dùng, cách thức giao tiếp... Trước bối cảnh này, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới, cải cách mạnh mẽ, căn bản để tiếp tục phát triển, đi lên vì nếu không thực hiện đồng thời cải cách và phát triển, chúng ta sẽ bị tụt hậu so với thời đại.

Trong khi đó, ông Ousmane Dione - Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam cho rằng, với nền kinh tế tăng trưởng trung bình gần 7%/năm trong suốt 30 năm qua giúp thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp 5 lần, đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp. Tăng trưởng của Việt Nam cũng có tính bao trùm, với tỷ lệ nghèo đã giảm xuống dưới 7%, so với mức hơn 60% vào cuối những năm 1980. Nhưng hành trình trở thành một nền kinh tế hiện đại hoá, công nghiệp hoá của Việt Nam mới chỉ mới bắt đầu và những thành tựu trong quá khứ không đảm bảo cho sự thành công trong tương lai.

Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ KH&ĐT tặng Khung chính sách kinh tế Việt Nam cho Ngân hàng Thế giới

Và các động lực mới

Vị giám đốc quốc gia của WB cũng gợi mở: Việt Nam sẽ phải giải quyết những trở lực mang tính cấu trúc đang gia tăng trong nước, như dân số già hóa nhanh, tăng trưởng năng suất chậm và đầu tư thấp, chi phí môi trường ngày càng lớn. Trong bối cảnh thế giới đang thay đổi, những chuyển đổi về mô hình thương mại toàn cầu và CMCN 4.0 vừa là cơ hội, vừa tạo ra những rủi ro mới, Việt Nam sẽ cần phải lựa chọn hướng đi cho mình.

Tại Diễn đàn lần này, cùng với việc xác định tầm nhìn mới cho Việt Nam trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh, các phiên thảo luận đã tập trung phân tích các động lực tăng trưởng gồm phát triển khu vực tư nhân và đổi mới sáng tạo trên nền tảng CMCN 4.0, cùng với đó là những khuyến nghị chính sách, giải pháp và hành động cải cách của các chuyên gia, đối tác phát triển nhằm giúp Việt Nam khai thác và thúc đẩy được các động lực này, qua đó hướng tới sự phát triển nhanh và bền vững.

Sau khi lắng nghe những thảo luận, chia sẻ tại Diễn đàn, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Việt Nam có tầm nhìn và khát vọng về một quốc gia thịnh vượng với mục tiêu sẽ gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập cao. Thủ tướng cho biết: “Sự phát triển của Việt Nam được đặt trong tổng hòa của tính bền vững, bao trùm về kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường tự nhiên”. Nhưng con đường để hiện thực hoá tầm nhìn và chiến lược phát triển của Việt Nam vươn tới khát vọng sẽ có nhiều chông gai, thách thức do cả nội tại nền kinh tế và những tác động từ môi trường quốc tế nhiều cạnh tranh và bất ổn hiện nay.

Do vậy, Việt Nam sẽ tiếp tục tập trung giải quyết 3 điểm nghẽn (thể chế, chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng) để chuyển hóa thành 3 đột phá chiến lược, thực sự phục vụ cho yêu cầu phát triển. Bên cạnh đó, để bắt nhịp với thời đại và xu hướng mới, Chính phủ cũng tập trung vào triển khai 2 động lực tăng trưởng quan trọng trong thập niên tới là thúc đẩy năng lực sáng tạo và ứng dụng công nghệ 4.0 và thúc đẩy phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Trên tinh thần đó, Thủ tướng khẳng định những vấn đề thảo luận, khuyến nghị tại Diễn đàn lần này là rất hữu ích cho việc thực hiện các nhiệm vụ quan trọng nêu trên và đóng góp trực tiếp cho quá trình điều hành, quản lý phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam trong những năm sắp tới.

Tại Diễn đàn lần này, Bộ KH&ĐT đã công bố tài liệu Khung chính sách kinh tế Việt Nam trong lộ trình từ nay đến năm 2035:

- GDP đặt mục tiêu đạt 290 tỷ USD vào năm 2020; 440 tỷ USD vào năm 2025; 670 tỷ USD năm 2030 và 1.050 tỷ USD vào năm 2035.

Đến năm 2035, Việt Nam sẽ trở thành nước thu nhập trung bình cao, với GDP bình quân đầu người đạt 10.000 USD.

Động lực tăng trưởng chính trong gần 2 thập kỷ tới gồm: Bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; hạ tầng đồng bộ, hiện đại; nguồn nhân lực chất lượng và dựa trên năng lực đổi mới sáng tạo; khu vực tư nhân phát triển; tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên CMCN 4.0 và thể chế kinh tế thị trường.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.330 23.450 25.912 26.717 29.401 29.872 204,59 212,65
BIDV 23.330 23.450 25.885 26.632 29.407 29.903 208,86 214,15
VietinBank 23.312 23.442 25.842 26.577 29.246 29.886 209,24 215,74
Agribank 23.345 23.440 25.885 26.281 29.418 29.901 209,17 212,95
Eximbank 23.320 23.430 25.885 26.242 29.476 29.882 209,87 212,76
ACB 23.330 23.430 25.871 26.226 29.469 29.799 210,07 212,96
Sacombank 23.289 23.442 25.911 26.367 29.544 29.950 208,95 213,54
Techcombank 23.310 23.450 25.649 26.510 29.170 30.050 208,37 215,56
LienVietPostBank 23.320 23.460 25.845 26.323 29.534 29.969 209,56 213,48
DongA Bank 23.340 23.430 25.930 26.230 29.510 29.880 206,50 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.280
36.470
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.280
36.450
Vàng SJC 5c
36.280
36.470
Vàng nhẫn 9999
36.360
36.760
Vàng nữ trang 9999
35.850
36.400