09:02 | 11/09/2019

Niềm tin vào tiền đồng tiếp tục tăng cao

Báo cáo trong buổi làm việc với Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú chiều 10/9, đại diện NHNN chi nhánh TP.HCM cho biết, tính đến hết tháng 8 nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn tăng 8,96% so với cuối năm 2018, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng tín dụng trong cùng thời gian này là 8,3%...

Linh hoạt trong thế giới biến động
Niềm tin tiền đồng trước “giông bão”

Điều này cho thấy niềm tin vào tiền đồng không hề suy giảm bất chấp việc nhiều đồng tiền chủ chốt trên thị trường quốc tế liên tục biến động. Con số trên càng có ý nghĩa hơn nếu nhớ lại thời điểm tháng 2 năm nay tăng trưởng vốn huy động của các TCTD trên địa bàn còn có chiều hướng giảm so với cùng kỳ năm trước.

Nhiều ngân hàng ở TP.HCM áp dụng nhiều hình thức thu hút tiền gửi dân cư

Ông Nguyễn Hoàng Minh - Phó giám đốc NHNN chi nhánh TP.HCM cho biết, đây là lần đầu tiên sau 4 năm, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn có mức tăng trưởng cao hơn so với tín dụng, cho thấy người dân vẫn coi tiết kiệm ngân hàng là một kênh đầu tư quan trọng.

Cụ thể theo thống kê của NHNN thành phố, tính đến cuối tháng 8/2019, tổng nguồn vốn huy động của các TCTD trên địa bàn đạt hơn 2,398 triệu tỷ đồng; trong đó tiền gửi dân cư chiếm tới 45% và tăng 7% so với cuối năm 2018. Trong khi tổng dư nợ cho vay đến cuối tháng 8 đạt 2,187 triệu tỷ đồng, trong đó tín dụng ngắn hạn chiếm 48%, tín dụng trung dài hạn chiếm 52%; tỷ lệ cho vay bằng VND trong tổng dư nợ hiện chiếm 92% tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái.

Riêng chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp đầu năm nay 15 TCTD trên địa bàn cam kết cho vay 268 ngàn tỷ đồng, đến nay đã giải ngân được hơn 150 ngàn tỷ đồng với lãi suất ưu đãi, dư địa còn lại cho các tháng cuối năm khoảng trên 110 ngàn tỷ đồng tương đương với 5,7% tăng trưởng tín dụng sẽ đảm bảo cán đích mục tiêu tăng trưởng đầu năm của ngành là 14%.

Đặc biệt, theo ông Nguyễn Hoàng Minh, động thái giảm thêm 0,5% lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên của 4 NHTM Nhà nước vào đầu tháng 8 là lần thứ hai trong năm ngành Ngân hàng thực hiện giảm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Lần giảm lãi suất này có sự hưởng ứng tham gia của nhiều NHTMCP trên địa bàn nên đã có hiệu ứng tích cực trong toàn xã hội, tạo niềm tin mạnh mẽ trong cộng đồng doanh nghiệp.

Việc các NHTMCP tham gia đợt giảm lãi suất hồi đầu tháng 8 vừa qua một phần cũng nhờ nguồn vốn huy động của các ngân hàng này được đảm bảo tốt nên sẵn sàng giảm lãi suất cho khách hàng của mình. Ngoài ra, việc các NHTMCP cùng tham gia giảm lãi suất cho vay còn do hoạt động tái cơ cấu ngân hàng trên địa bàn đã có những kết quả nhất định, trong đó đáng kể nhất là những tác động tích cực của Nghị quyết 42 về thí điểm xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng.

Theo số liệu thống kê của NHNN chi nhánh TP.HCM, tính đến hết tháng 8/2019 tỷ lệ nợ xấu của các TCTD trên địa bàn TP.HCM ở mức 2,56% tổng dư nợ, nếu trừ số nợ xấu của 3 “ngân hàng không đồng” tỷ lệ nợ xấu toàn địa bàn chỉ vào khoảng 1,9%. Ngoài ra, NHNN chi nhánh TP.HCM còn khẳng định đến nay thanh khoản của các NHTM trên địa bàn đều ổn định và dồi dào nên các ngân hàng không còn phải lo tìm chỗ này bù đắp chỗ khác.

Ghi nhận những kết quả đã đạt được của hệ thống các TCTD trên địa bàn thời gian qua, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho rằng các chỉ số tín dụng, tiền tệ ngân hàng ở TP.HCM đều đảm bảo tăng trưởng ổn định và các TCTD giữ ổn định lãi suất cho vay là một thành công.

Tuy nhiên, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cũng lưu ý những tháng cuối năm NHNN chi nhánh TP.HCM cần có những giải pháp giám sát từ xa để ngăn chặn kịp thời các hoạt động biến tướng trong huy động vốn. Bên cạnh đó, cần có hình thức xử lý những ngân hàng từ chối cho vay với lãi suất ưu đãi đối với những đối tượng ưu tiên để tạo niềm tin cho thị trường.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.285 25.473 26.348 28.617 29.106 203,30 216,50
BIDV 23.155 23.275 25.513 26.400 28.584 29.252 209,89 217,78
VietinBank 23.148 23.278 25.485 26.280 28.582 29.222 212,55 218,55
Agribank 23.135 23.240 25.309 25.700 28.281 28.751 212,04 215,91
Eximbank 23.160 23.270 25.514 25.867 28.755 29.152 213,85 216,80
ACB 23.150 23.270 25.507 25.858 28.817 29.141 213,66 216,61
Sacombank 23.112 23.272 25.510 25.969 28.769 29.180 213,10 217,66
Techcombank 23.151 23.291 25.272 26.267 28.413 29.318 212,33 219,55
LienVietPostBank 23.145 23.265 25.436 25.911 28.778 29.207 212,44 217,42
DongA Bank 23.170 23.260 25.510 25.820 28.740 29.110 210,50 216,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.500
41.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.500
41.850
Vàng SJC 5c
41.500
41.870
Vàng nhẫn 9999
41.480
41.980
Vàng nữ trang 9999
41.050
41.850