18:18 | 16/05/2019

Phải đào tạo lại nguồn nhân lực cho ngân hàng số

Ngày 16/5, tại Hội thảo Số hóa Ngân hàng ở TP.HCM, ông Lê Anh Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán (NHNN) cho biết, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã làm thay đổi căn bản các mô hình kinh doanh, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng các quầy giao dịch đang giảm dần thay vào đó là các phương thức giao dịch mobile banking, internet banking.

Tuy nhiên, những giao dịch số hóa trong hoạt động ngân hàng cũng đặt ra những rủi ro và thách thức mới cho hoạt động ngân hàng ngày nay khi các vụ tấn công mạng liên tục nhắm vào các giao dịch tài chính trực tuyến. Điều này đòi hỏi phải xây dựng một hệ thông giao dịch an ninh an toàn thanh toán trong các mô hình ngân hàng số.

Ông Lê Anh Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán NHNN

Ông Lê Anh Dũng đặt vấn đề một trong các trụ cột phát triển ngân hàng số là phải đào lại nguồn nhân lực ngành Ngân hàng khi mà quá trình số hóa hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển. Các ngân hàng thương mại cũng phải thiết kế lại toàn bộ sản phẩm dịch vụ trong ngân hàng số để đáp ứng nhu cầu mới của khách hàng.

Đặc biệt, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng số phải có nhiều tiện ích và đơn giản trong thủ tục mới có thể thu hút và giữ chân được khách hàng sử dụng lâu dài trong xu hướng người dùng ngân hàng số liên tục thay đổi các ứng dụng ngân hàng khác nhau để tìm kiếm các lợi ích trước mắt.

Theo số liệu thống kê của Vụ Thanh toán (NHNN), đến cuối năm 2018 cả nước có khoảng 74,9 triệu tài khoản so với thời điểm cuối năm 2014 số lượng mới vào khoảng 54,4 triệu tài khoản. Trong đó có khoảng 43,2 triệu người trưởng thành có tài khoản (quy định hiện cho phép người từ 15 tuổi mở tài khoản) tương đương với tỷ lệ 60,25% dân số, kế hoạch của Chính phủ vào cuối năm 2020 có ít nhất 70% người trưởng thành có tài khoản ngân hàng.

Tính đến cuối năm 2018, toàn hệ thống ngân hàng có 18.173 máy ATM và 294.503 máy chấp nhận thẻ (POS); số món thanh toán giao dịch qua ATM gần 650 triệu món, thanh toán qua POS trên 150 triệu món. Giá trị giao dịch qua POS tại thời điểm cuối quý III/2018 vào khoảng hơn 320 ngàn tỷ đồng và giao dịch qua ATM trên 1,8 triệu tỷ đồng. Số món và giá trị giao dịch qua thẻ lần lượt đạt 193,8 triệu món và trên 163 triệu tỷ đồng.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,60
6,90
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,30
5,90
6,70
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.330 23.450 25.912 26.717 29.401 29.872 204,59 212,65
BIDV 23.330 23.450 25.885 26.632 29.407 29.903 208,86 214,15
VietinBank 23.312 23.442 25.842 26.577 29.246 29.886 209,24 215,74
Agribank 23.345 23.440 25.885 26.281 29.418 29.901 209,17 212,95
Eximbank 23.320 23.430 25.885 26.242 29.476 29.882 209,87 212,76
ACB 23.330 23.430 25.871 26.226 29.469 29.799 210,07 212,96
Sacombank 23.289 23.442 25.911 26.367 29.544 29.950 208,95 213,54
Techcombank 23.310 23.450 25.649 26.510 29.170 30.050 208,37 215,56
LienVietPostBank 23.320 23.460 25.845 26.323 29.534 29.969 209,56 213,48
DongA Bank 23.340 23.430 25.930 26.230 29.510 29.880 206,50 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.160
36.350
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.160
36.330
Vàng SJC 5c
36.160
36.350
Vàng nhẫn 9999
36.190
36.590
Vàng nữ trang 9999
35.730
36.330