09:28 | 23/05/2019

Phó Thủ tướng: ‘Nợ công 58,4% vẫn còn cao’

Nợ công vào cuối năm 2018 là 58,4% GDP, rời xa mức trần 65% GDP so với cuối năm 2015 nhưng Chính phủ chưa vay nợ thêm để đầu tư phát triển vì áp lực trả nợ vẫn còn rất lớn.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết thông tin này tại phiên họp tổ của Quốc hội diễn ra ngày 22/5.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu tại phiên họp. Ảnh VGP/Thành Chung

Trước đó, Bộ Tài chính đã gửi tới các vị đại biểu Quốc hội báo cáo đánh giá tình hình nợ công năm 2018. Bộ Tài chính đánh giá tình hình nợ công đã được quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn, các mức dư nợ đều thấp hơn quy định trong kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2016-2020.

Cụ thể, tỷ lệ nợ công Việt Nam đã giảm xuống dưới 60% GDP, ở mức 58,4% GDP và cũng là mức thấp nhất 3 năm qua. Theo tính toán, với quy mô kinh tế năm 2018 khoảng 5,5 triệu tỷ đồng, nợ công ở ngưỡng 3,2 triệu tỷ đồng thì bình quân mỗi người dân Việt Nam gánh hơn 32 triệu đồng nợ công, tính tới hết năm 2018.

Bình quân mỗi người dân Việt Nam gánh hơn 32 triệu đồng nợ công, tính tới hết năm 2018.

Báo cáo thêm với các vị đại biểu Quốc hội, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết tốc độ tăng nợ công số tuyệt đối đang giảm đi đáng kể vì Chính phủ siết chặt bảo lãnh vay nợ. Cả năm 2018, Chính phủ chỉ bảo lãnh duy nhất cho một dự án nhiệt điện, còn năm 2019 này không bảo lãnh cho bất kỳ một dự án nào.

Trước đây, trong cơ cấu nợ công, nợ nước ngoài chiếm 60% còn nợ trong nước là 40% thì nay ngược lại, nợ trong nước chiếm tới 60%, nợ nước ngoài chỉ chiếm 40%, góp phần đỡ sức ép về chênh lệnh tỷ giá. Bình quân thời gian trả nợ nước ngoài là 7 năm và lãi suất thấp, so với những năm trước chỉ 2, 3 năm và chịu lãi suất cao. Trong năm 2018, các khoản nợ nước ngoài còn có thời gian trả nợ lên tới 15 năm.

Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cho biết: “Nợ công giảm nhưng ta không huy động thêm vì phải dành chi phí trả nợ. Năm 2015 chi phí trả nợ cả gốc, lãi là 27,6% thu ngân sách, tới năm 2018, tỷ lệ này được kéo giảm còn 18,3%, dưới mức an toàn rồi nhưng áp lực vẫn lớn”.

Ngoài ra, Phó Thủ tướng cho biết Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương không thể vượt quá khung khổ đầu tư công 2 triệu tỷ đồng của giai đoạn 2016-2020, thậm chí còn chưa dùng hết khung này. Có một số địa phương muốn vay ODA nhưng Chính phủ xét thấy vay trong nước tốt hơn nên đã chuyển hướng vay trong nước.

“Do vậy, dư địa về nợ công để phục vụ cho các công trình đầu tư lớn của quốc gia chúng ta có thể để cho khóa sau sử dụng. Nhưng tôi cho rằng tỷ lệ nợ công 58,4% hiện nay vẫn còn cao chứ không thấp đâu”, Phó Thủ tướng nói.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng phát biểu tại phiên họp. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Tại Tổ đại biểu Quốc hội của đoàn Ninh Bình, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho rằng chưa thể nói nợ công đã thực sự an toàn, bền vững khi chúng ta mới bố trí trả được lãi, chưa trả được gốc. Đặc biệt là khi đầu vào là tiền vay đã quản lý chặt chẽ, song đầu ra là các dự án đầu tư, xây dựng từ ngân sách, trái phiếu, ODA có thực sự hiệu quả chưa thì vẫn là điều còn “băn khoăn”.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cũng cho rằng cần xem xét lại một số chính sách vay khi chúng ta vay ưu đãi nước ngoài có lãi suất 2 - 3%/năm. Song nếu tính cả trượt giá ngoại tệ thì mức lãi suất thực có thể lên đến 6 - 7%, cao hơn cả vay trong nước, chưa kể còn nhiều yếu tố phụ thuộc khi vay nước ngoài. Do đó, cần xử lý hợp lý để có cơ cấu nợ công hiệu quả.

Việt Nam là thực tiễn tốt về quản lý nợ công Việt Nam là thực tiễn tốt về quản lý nợ công
Giảm áp lực nợ công Giảm áp lực nợ công
Nợ công năm 2018 có thể dưới 61% GDP Nợ công năm 2018 có thể dưới 61% GDP
Quản lý nợ công còn nhiều việc phải làm Quản lý nợ công còn nhiều việc phải làm

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.350 26.151 26.915 29.358 29.828 213,84 222,61
BIDV 23.225 23.345 26.286 27.035 29.371 29.874 214,10 219,52
VietinBank 23.212 23.342 26.255 26.990 29.290 29.930 214,21 220,71
Agribank 23.245 23.345 26.076 26.474 29.280 29.761 214,44 218,35
Eximbank 23.220 23.330 26.292 26.655 29.467 29.874 215,08 218,05
ACB 23.210 23.330 26.284 26.645 29.508 29.838 214,96 21791
Sacombank 23.184 23.336 26.293 27.050 29.455 29.859 214,24 218,80
Techcombank 23.210 23.350 26.044 26.909 29.111 29.992 21368 221,01
LienVietPostBank 23.210 23.330 26.218 26.748 29.458 29.853 214,54 218,94
DongA Bank 23.240 23.330 26.320 26.640 29.460 29.840 211,60 217,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
38.450
38.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
38.450
38.700
Vàng SJC 5c
38.450
38.720
Vàng nhẫn 9999
38.430
38.930
Vàng nữ trang 9999
37.900
38.700