11:56 | 22/05/2019

Việt Nam là thực tiễn tốt về quản lý nợ công

Hội nghị toàn thể Mạng lưới Quản lý chi tiêu công tại châu Á (PEMNA) năm 2019 chính thức khai mạc tại Quảng Ninh với chủ đề “Cơ cấu lại ngân sách nhà nước và quản lý nợ công để đảm bảo nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững”.

Diễn ra trong các ngày từ 22-24/5/2019, Hội nghị có sự tham gia của gần 150 đại biểu đến từ 14 quốc gia thành viên PEMNA (Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Mông Cổ, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Timor-leste, Việt Nam) và các tổ chức quốc tế như World Bank, IMF, OECD, USOTA, UNESCAP.

Quang cảnh Hội nghị

Theo ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn, Thứ trưởng Bộ Tài chính: Tái cơ cấu ngân sách và quản lý hiệu quả nợ công không chỉ là vấn đề thời sự của các thành viên PEMNA, của Việt Nam, mà còn là tầm nhìn chiến lược cho nền tài chính quốc gia.

Sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2007-2008, đa số nền tài chính các quốc gia đều tăng bội chi, từ mức trung bình 2,2% lên 5,5%, tuy  gần đây có giảm xuống 3,5% nhưng vẫn là mức cao. Để bù đắp bội chi và đề có nguồn lực giải quyết khủng hoảng, giải pháp là tăng vay nợ và vì thế nợ công toàn thế giới đã tăng. Việt Nam không nằm ngoài xu hướng này.

Ông Kyoungho Han, Chủ tịch Ban Điều hành PEMNA, Vụ trưởng Vụ Quản lý hiệu quả hoạt động tài khóa của Bộ Tài chính Hàn Quốc nhấn mạnh, Thái Bình Dương là khu vực kinh tế năng động, thành viên PEMNA là những nền kinh tế năng động, nhưng có trình độ phát triển khác nhau. Vì vậy, Hội nghị là cơ hội, là điều kiện để trao đổi về những thách thức đã, đang và sẽ gặp phải, là nơi học hỏi các kinh nghiệm. Đặc biệt vấn đề hiện nay là cần phải có các hoạt động cải cách tài khóa, sửa đổi luật lệ liên quan đến tài khóa.

Việt Nam được cho là một điển hình về phục hồi sau khủng hoảng và tiến hành tái cơ cấu ngân sách và quản lý hiệu quả nợ công, đã sớm có kết quả nhất định.

Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam phát biểu: “Khi đi từ Hà Nội đến TP. Hạ Long này, các bạn đã thấy được sự phục hồi và chuyển mình của Việt Nam. Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế bình quân 6,5%/năm, kinh tế vĩ mô ổn định, nợ công giảm, bội chi giảm…”.

Bị ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế thế giới, Việt Nam đã có năm rơi vào kinh tế suy giảm, vĩ mô bất ổn, lạm phát tăng cao lên mức hai con số, bội chi và nợ công tăng lên, cân đối ngân sách khó khăn. Nhưng đến nay, sau khi thực hiện các giải pháp để phục hồi kinh tế, ổn định vĩ mô, tái cơ cấu nền kinh tế, tái cơ cấu ngân sách và nợ công, thì lạm phát đã được kiềm chế ở mức thấp hơn mức Quốc hội Việt Nam cho phép, tăng trưởng đạt ở mức cao so với khu vực, vĩ mô ổn định, bội chi và nợ công cũng ở mức thấp hơn quốc hội cho phép.

Được đánh giá là một thực tiễn tốt, tại Hội nghị, Đoàn đại biểu Việt Nam  trình bày các tham luận liên quan đến việc cơ cấu lại ngân sách nhà nước và quản lý nợ công; định hướng hoàn thiện các chính sách ưu đãi thuế nhằm thu hút đầu tư, đảm bảo mục tiêu bền vững tài khóa; kinh nghiệm của Việt Nam trong quản lý nợ công thận trọng và bền vững; kinh nghiệm của Việt Nam về phát hành trái phiếu Chính phủ và quản lý danh mục trái phiếu; báo cáo tài chính nhà nước...

PEMNA là mạng lưới học hỏi giữa các đồng nghiệp gồm cán bộ và chuyên gia về quản lý tài chính công trong khu vực. Được thành lập từ năm 2012 theo sáng kiến của Ngân hàng Thế giới, Bộ Tài chính và Chiến lược Hàn Quốc, với mục tiêu hỗ trợ các Chính phủ trong khu vực giải quyết các vấn đề liên quan đến tài chính công và nâng cao hiệu quả chi tiêu công, thông qua việc tạo ra diễn đàn trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm về quản lý tài chính công giữa các quốc gia trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
5,00
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,10
5,20
5,40
6,40
6,40
6,80
7,80
Sacombank
0,30
-
-
-
5,00
5,40
5,50
6,50
6,70
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,80
4,80
5,00
6,10
6,00
6,50
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,00
5,10
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,10
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.260 25.356 26.227 29.472 29.974 200,44 213,54
BIDV 23.140 23.260 25.436 26.181 29.559 30.122 206,60 213,40
VietinBank 23.125 23.255 25.349 26.184 29.432 30.072 209,52 215,52
Agribank 23.145 23.245 25.373 26.765 29.503 29.986 209,97 213,80
Eximbank 23.140 23.250 25.387 25.737 29.591 30.000 210,83 213,74
ACB 23.130 23.255 25.381 25.730 29.657 29.991 210,86 213,76
Sacombank 23.099 23.259 25.384 25.836 29.620 30.022 210,02 214,58
Techcombank 23.130 23.270 25.144 26.140 29.263 30.181 209,41 216,55
LienVietPostBank 23.130 23.250 25.294 25.764 29.461 29.900 210,17 214,12
DongA Bank 23.130 23.250 25.490 25.820 29.580 29.970 207,90 213,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.220
41.490
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.220
41.470
Vàng SJC 5c
41.220
41.490
Vàng nhẫn 9999
41.180
41.630
Vàng nữ trang 9999
40.670
41.470