12:09 | 12/05/2018

USD tiếp tục giảm, ghi nhận tuần giảm đầu tiên sau 3 tuần tăng

Đồng USD tiếp tục giảm trong phiên giao dịch cuối tuần và xóa sạch mức tăng đầu tuần do hoạt động chốt lời sau khi nó đã tăng mạnh trong thời gian gần đây nhờ chênh lệch lãi suất giữa Mỹ và nhiều nền kinh tế tiên tiến khác ngày càng nới rộng. Bên cạnh đó, đồng bạc xanh còn chịu áp lực từ lạm phát yếu hơn dự kiến tại Mỹ.

NHTW Anh giữ nguyên lãi suất, giảm dự báo tăng trưởng và lạm phát
Giá tiêu dùng của Mỹ chỉ phục hồi khiêm tốn trong tháng 4
ECB giữ nguyên chính sách kích thích do lo ngại tăng trưởng chậm lại

Theo đó, chỉ số theo dõi đồng USD so với sáu đồng tiền chủ chốt khác hiện đã rơi xuống mức 92,603 điểm, đã giảm khoảng 0,87% so với mức đỉnh cao nhất từ đầu năm là 93,416 thiết lập trong phiên giao dịch hôm thứ Tư.

Khép lại tuần qua, đồng USD cũng ghi nhận mức giảm nhẹ 0,04% sau ba tuần tăng liên tiếp.

Cụ thể, so với yên Nhật, đồng USD giảm nhẹ 0,01% xuống mức 109,39 JPY/USD.

“Mọi người đang chốt lời. Động thái này đang làm đồng USD mất đi một chút động lực”, Chuck Tomes - chuyên gia phân tích đầu tư cao cấp của Manulife Asset Management ở Boston nói về sự tăng giá của đồng USD, bắt đầu vào giữa tháng 4 và bị chốt lời vào ngày thứ Sáu.

Bên cạnh đó, đồng bạc xanh còn chịu thêm áp lực sau khi lạm phát tại Mỹ tăng yếu hơn dự kiến đã củng cố cho luồng quan điểm Fed không cần phải vội vã trong việc tăng lãi suất.

Đà giảm của đồng USD đã giúp cho đồng euro có phiên tăng giá thứ hai liên tiếp. Tuy nhiên, đồng tiền chung vẫn khép lại tuần qua với mức giảm nhẹ, tuần giảm giá thứ 4 liên tiếp so với đồng USD.

Theo đó, đồng euro đã tiếp tục tăng 0,23% trong phiên cuối tuần lên mức 1,1943 USD và tăng 0,21% so với đồng tiền Nhật Bản lên mức 130,63 JPY/EUR. Mặc dù vậy, tính chung trong tuần qua, đồng tiền chung giảm 0,1% so với đồng bạc xanh, song tăng khoảng 0,05% so với đồng yên.

Đồng bảng Anh cũng phục hồi 0,17% lên mức 1,3542 USD. Đồng bảng Anh đã chịu áp lực bán mạnh sau khi NHTW Anh giữ nguyên lãi suất và cắt giảm triển vọng tăng trưởng, lạm phát tại Anh vào hôm thứ Năm.

Kinh tế châu Âu mất đà đã khiến các nhà hoạch định chính sách ở châu Âu và Anh thận trọng hơn trong việc chấm dứt chính sách kích thích được ban hành sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Hôm thứ Sáu, Chủ tịch NHTW châu Âu Mario Draghi cho biết, khu vực đồng Euro cần “công cụ tài chính” mới để giúp các quốc gia thành viên yếu hơn nếu họ bị các nhà đầu tư phạt nặng trong cuộc khủng hoảng nợ.

Hiện các nhà đầu tư đã đẩy lui kỳ vọng tăng lãi suất của Anh đến cuối năm 2018 và ECB sẽ thúc đẩy lãi suất trong nửa cuối năm 2019. Trong khi các hợp đồng tương lai lãi suất của Mỹ cho thấy các nhà giao dịch kỳ vọng Fed sẽ tăng chi phí vay mượn ít nhất 2 lần nữa trong năm 2018.

Tuy nhiên, không phải tất cả các NHTW ở châu Âu đều muốn duy trì chính sách tiền tệ lỏng lẻo. Đầu tuần này, một số nhà hoạch định chính sách Riksbank, theo Biên bản cuộc họp chính sách của NHTW Thụy Điển, báo hiệu khả năng lãi suất cao hơn vào mùa thu trong bói cảnh một nền kinh tế đang tăng mạnh. Điều đó đã giúp kích hoạt đợt tăng giá của đồng crown Thụy Điển.

Cụ thể đồng nội tệ của Thụy Điển tăng 0,6% lên 9,5941 SEK/USD, ghi nhận tuần tăng mức tăng hàng tuần tốt nhất so với đồng USD từ cuối tháng 6/2017. Nó cũng ghi nhận mức tăng hàng tuần mạnh nhất so với euro kể từ tháng 2/2010, số liệu của Reuters cho thấy.

Đà giảm của đồng USD cũng giúp đồng đôla Úc tiếp tục phục hồi 0,15% lên 0,7543 USD. Tuy nhiên, đồng đôla Canada lại giảm 0,2% xuống mức 1,2795 CAD/USD.

Các đồng tiền châu Á cũng được hưởng lợi từ sự suy yếu của đồng bạc xanh. Khép lại tuần qua, đôla Hồng Kông tăng nhẹ lên 7,8497 HKD/USD; đồng won Hàn Quốc tăng mạnh 0,3% lên 1.069,40 KRW/USD.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,80
5,80
5,80
6,50
6,50
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
5,00
5,80
5,70
7,00
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.740 22.810 26.464 26.781 30.080 30.562 204,66 208,58
BIDV 22.740 22.810 26.467 26.774 30.099 30.550 205,36 208,39
VietinBank 22.736 22.816 26.419 26.797 30.051 30.611 205,31 208,71
Agribank 22.730 22.810 26.648 26.969 30.281 30.704 202,97 206,12
Eximbank 22.720 22.810 26.438 26.782 30.174 30.568 206,32 209,01
ACB 22.750 22.820 26.448 26.780 30.278 30.581 206,61 209,20
Sacombank 22.748 22.830 26.518 26.873 30.286 30.648 206,16 209,23
Techcombank 22.720 22.820 26.198 26.913 29.857 30.696 204,94 210,41
LienVietPostBank 22.720 22.810 26.574 27.027 30.396 30.648 203,44 207,08
DongA Bank 22.740 22.810 26.490 26.790 30.210 30.600 204,60 208,50
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.500
36.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.500
36.700
Vàng SJC 5c
36.500
36.720
Vàng nhẫn 9999
35.950
36.350
Vàng nữ trang 9999
35.600
36.300