20:15 | 10/05/2018

Giá tiêu dùng của Mỹ chỉ phục hồi khiêm tốn trong tháng 4

Giá tiêu dùng của Mỹ đã tăng trở lại trong tháng 4, song mức tăng là nhẹ hơn dự kiến do sự tăng giá xăng dầu và chi phí thuê nhà đã bị che mờ phần nào bởi giá dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Điều đó đã làm vơi đi phần nào kỳ vọng tăng lãi suất vào tháng 6 tới.

Ông Trump rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran, khôi phục các lệnh trừng phạt
Quan chức Fed thừa nhận áp lực giá tăng, nhưng không cần thay lộ trình lãi suất
Fed giữ nguyên lãi suất, song lạc quan về triển vọng lạm phát
Ảnh minh họa

Bộ Lao động Mỹ hôm thứ Năm (10/5) cho biết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ tăng 0,2% trong tháng 4 sau khi giảm 0,1% trong tháng 3. Trong 12 tháng đến hết tháng 4, CPI tăng 2,5%, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 2/2017, sau khi tăng 2,4% trong tháng 3.

Nếu loại trừ giá năng lượng và thực phẩm tươi sống, chỉ số CPI lõi chỉ tăng 0,1% sau hai tháng tăng 0,2% liên tiếp. Còn so với cùng kỳ năm trước, CPI lõi tăng 2,1% trong tháng 4, tương đương mức tăng của tháng 3.

Trong khi đó, các nhà kinh tế tham gia cuộc khả sát của Reuters dự báo, CPI tháng 4 của Mỹ sẽ tăng 0,3% so với tháng trước và CPI lõi tăng 0,2%.

Mặc dù vậy, hiện Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đang theo dõi một thước đo lạm phát khác hiện đang tiến sát tới mục tiêu 2% NHTW Mỹ. Đó là chỉ số giá tiêu dùng cá nhân không bao gồm thực phẩm và năng lượng (PCE lõi) đã tăng 1,9% so với cùng kỳ năm ngoái.

Các nhà kinh tế kỳ vọng PCE lõi, vốn chỉ tăng 1,6% trong tháng Hai, sẽ vượt qua mục tiêu 2% của Fed vào tháng Năm.

Lạm phát tại Mỹ đang có xu hướng tăng nhanh trở lại, đặc biệt là sau khi giá dầu thô thế giới đã tăng lên cao nhất trong 3,5 năm trong phiên hôm thứ Tư sau quyết định của Tổng thống Donald Trump về việc rút khỏi thỏa thuận hạt nhân quốc tế với Iran.

Tuy nhiên việc CPI chỉ tăng thấp hơn dự kiến và CPI lõi đang “dậm chân tại chỗ” đã làm vơi đi phần nào kỳ vọng Fed sẽ tăng lãi suất vào tháng 6 tới. Điều đó, cộng thêm việc lợi suất trái phiếu Mỹ tiếp tục sụt giảm đã đẩy đồng USD giảm khá mạnh so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt và ngày càng rời xa mức đỉnh 4,5 tháng thiết lập trong phiên hôm thứ Tư.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,40
4,40
4,80
5,50
5,50
6,60
6,60
BIDV
0,10
-
-
-
4,50
4,50
5,00
5,50
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,50
4,50
4,80
5,5
5,50
6,80
6,80
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
4,80
5,00
5,10
5,80
5,80
6,50
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,20
5,30
6,10
6,20
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,70
4,70
4,80
5,90
5,90
6,60
6,60
LienVietPostBank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,30
4,30
4,60
5,30
5,50
6,80
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,50
4,50
4,80
5,50
5,60
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.295 23.385 26.828 27.688 30.409 30.896 204,93 213,12
BIDV 23.300 23.380 26.817 27.138 30.514 30.986 205,84 209,29
VietinBank 23.297 23.387 26.750 27.128 30.381 30.941 205,35 208,75
Agribank 23.280 23.380 26.802 27.160 30.531 30.939 206,10 208,85
Eximbank 23.300 23.380 26.785 27.129 29.600 30.916 206,11 208,76
ACB 23.300 23.392 26.875 27.235 30.633 30.988 206,24 209,30
Sacombank 23.295 23.387 26.884 27.245 30.545 30.900 206,87 209,90
Techcombank 23.280 23.380 26.563 27.276 30.210 31.043 20476 210,00
LienVietPostBank 23.280 23.380 26.772 27.239 30.500 30.922 206,55 210,27
DongA Bank 23.300 23.380 26.830 27.140 29.540 30.910 204,80 208,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.510
36.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.510
36.650
Vàng SJC 5c
36.510
36.670
Vàng nhẫn 9999
34.690
35.090
Vàng nữ trang 9999
34.240
35.040