16:00 | 16/05/2018

Vẫn thiếu các đột phá

Sau 5 năm thực hiện Đề án TCC ngành nông nghiệp, những kết quả đạt được mới chỉ là bề nổi.

Kỳ vọng nông nghiệp công nghệ cao
Nguy cơ nền nông nghiệp gia công

Đặt vấn đề đúng và trúng

Sau 5 thực hiện Đề án Tái cơ cấu (TCC) ngành nông nghiệp, có thể nhìn thấy, bộ mặt ngành này đã từng bước thay đổi. Theo đó, nhờ những điều chỉnh cơ cấu sản xuất theo hướng tăng tỷ trọng các ngành, sản phẩm có lợi thế và thị trường mà kim ngạch xuất khẩu (XK) nông, lâm, thủy sản những năm qua có sự tăng trưởng ấn tượng.

Cần có thể chế để ngành nông nghiệp phát triển toàn diện

Số liệu của Bộ NN&PTNT cho thấy, năm 2017, kim ngạch XK nông, lâm, thủy sản đạt mức kỷ lục 36,37 tỷ USD, tăng 13% so với năm 2016. Quý I/2018, kim ngạch XK đạt 8,7 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ 2017. Quá trình TCC cũng ghi nhận sự đột phá về năng suất, chất lượng của hầu hết các loại cây trồng chủ lực thông qua việc sử dụng giống mới và các biện pháp thâm canh tiên tiến.

Ông Đặng Kim Sơn - chuyên gia nông nghiệp nhận định: Bộ NN&PTNT đã tiên phong trong quá trình TCC ngành và đã có những kết quả đáng ghi nhận. Sức sản xuất trong nông nghiệp đã được tăng lên rõ rệt, thể hiện ở sản lượng các mặt hàng nông sản đều tăng. Ngành nông nghiệp đã trở thành trụ đỡ cho nền kinh tế. Quá trình TCC cũng đã huy động sự vào cuộc tích cực của các địa phương.

Tuy nhiên, sự thay đổi này mới chỉ diễn ra ở bề nổi, trong đó, thể hiện rõ nhất đó chính là kết cấu sản xuất. Tuy nhiên, những mục tiêu chính của Đề án là vẫn chậm đạt được. Cụ thể, mục tiêu về thu nhập của người dân, mục tiêu về vững bền môi trường, mục tiêu phúc lợi cho người tiêu dùng, nhất là vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm, vẫn chưa có kết quả khả quan. “Những gì đạt được là chậm và hẹp so với mục tiêu, so với mong muốn và so với tiềm năng bởi sự không đồng bộ từ những ngành, lĩnh vực khác nhìn lại”, ông Sơn cho hay.

Nhưng vẫn thiếu các đột phá

Mục tiêu Đề án nhấn mạnh vào việc nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam, nhằm nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho cư dân nông thôn. Phát triển nông nghiệp theo cơ chế thị trường, phải đảm bảo các mục tiêu vừa đảm bảo phúc lợi của người dân và cả phúc lợi của người tiêu dùng, hướng đến sự phát triển bền vững và công bằng. Đề án cũng đặt nông nghiệp trong một chỉnh thể chung, TCC nông nghiệp là một hợp phần của TCC toàn bộ nền kinh tế. Thế nhưng, chúng ta chưa đạt được những điều đó.

Nguyên nhân của tình trạng trên, theo TS. Đặng Kim Sơn là do những đột phá cơ bản chưa xuất hiện. Phân tích rõ hơn về vấn đề này, ông Sơn cho hay, thứ nhất, chưa có đột phá về thể chế. Ngành nông nghiệp mong đợi kinh tế hợp tác phải phát triển, các HTX phải phát triển lên nhằm liên kết nông dân nhỏ lại với nhau nhưng chưa làm được.

Ngành nông nghiệp cũng chưa thu hút được DN về khởi nghiệp mạnh. Nông dân - DN cũng thưa thực sự liên kết với nhau để mở rộng cánh cửa thị trường. Bên cạnh đó, thay đổi cách thức quản lý của nhà nước mặc dù đã diễn ra nhưng vẫn còn chậm. Đây là những vấn đề lo ngại nhất vì nó quyết định tới động lực cho sự thay đổi và phát triển.

Thứ hai, đột phá về KHCN. Mặc dù đã có một số điểm sáng như Lâm Đồng làm nhà kính nhà lưới, hay những tiến bộ kỹ thuật trong ngành thủy sản, cây ăn trái phát triển mạnh… nhưng để thành phong trào, thành xu thế, thành các vùng chuyên canh có tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc thì chưa. Vẫn chưa có các khu nông nghiệp công nghệ cao thực sự, chưa có các tiến bộ kỹ thuật đột phá…

Thứ ba, chưa có đột phá về thị trường. Ngành nông nghiệp có những tín hiệu rất tốt từ thị trường Mỹ, Úc, Hàn Quốc, Nhật Bản… nhưng chỉ là đơn lẻ. Vì vậy, chúng ta vẫn phải “giải cứu nông sản”… Bên cạnh đó, đất đai không tích tụ được, điều này gây khó khăn cho cả nông dân và doanh nhân.

Như vậy, đây mới là sự cố gắng vươn lên của riêng ngành nông nghiệp, tạo lên sức tràn trên bề nổi chứ chưa tạo được sự chuyển biến căn bản. Đổi mới về thể chế không đi kèm khiến toàn bộ “khung xương” của quá trình TCC bị giữ dẫn đến quá trình TCC nông nghiệp không vững bền và kém hiệu quả.

Để đẩy mạnh quá trình TCC ngành nông nghiệp trong thời gian tới, ông Đặng Kim Sơn cho rằng, quan trọng nhất là vấn đề thể chế. Theo đó, cần phải tổ chức lại sản xuất theo mô hình hộ, chuyển từ hộ sản xuất nhỏ sang hộ sản xuất lớn, lao động nông thôn cần chuyển từ phi chính thức sang chính thức, có bảo hiểm, hợp đồng, lao động cần tập chung vào nghiệp đoàn. Hợp tác xã phải được đầu tư mạnh. Toàn bộ nền kinh tế phải được TCC. Ngành công nghiệp phải TCC, cần có chiến lược công nghiệp hóa rõ ràng, lao động phải ly nông bất ly hương, công nghiệp phải phục vụ nông nghiệp.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,40
6,50
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,90
6,90
VietinBank
0,10
0,50
0,50
0,50
4,10
4,10
4,60
5,10
5,50
6,80
6,90
Eximbank
0,30
1,00
1,00
1,00
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
6,80
8,00
ACB
0,30
1,00
1,00
1,00
5,00
5,20
5,30
5,90
5,90
6,70
6,50
Sacombank
0,30
-
-
-
4,70
5,40
5,50
6,20
6,40
6,90
7,30
Techcombank
-
0,50
0,50
0,50
4,70
4,70
4,80
5,80
5,80
6,50
6,50
LienVietPostBank
0,60
1,00
1,00
1,00
4,00
4,50
5,00
5,80
5,70
7,00
7,20
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,50
5,50
5,50
7,00
7,20
7,20
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,10
4,10
4,80
5,30
5,50
6,70
6,70

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.755 22.825 26.511 26.828 30.109 30.591 204,27 208,58
BIDV 22.745 22.815 26.553 26.787 30.307 30.571 206,94 208,80
VietinBank 22.762 22.842 26.451 26.829 30.069 30.829 205,81 209,21
Agribank 22.740 22.820 26.546 26.867 30.239 30.661 205,39 208,59
Eximbank 22.740 22.830 26.345 26.688 30.093 30.484 206,75 209,44
ACB 22.760 22.830 26.282 26.765 30.096 30.572 206,26 210,05
Sacombank 22.767 22.850 26.409 26.771 30.186 30.551 206,86 209,95
Techcombank 22.735 22.835 26.254 26.972 29.874 30.712 205,19 210,67
LienVietPostBank 22.720 22.820 26.440 26.891 30.283 30.516 205,64 209,69
DongA Bank 22.760 22.830 26.350 26.700 30.050 30.510 205,20 209,60
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
36.580
36.750
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
36.580
36.730
Vàng SJC 5c
36.580
36.750
Vàng nhẫn 9999
36.030
36.430
Vàng nữ trang 9999
35.680
36.380