12:39 | 22/07/2019

Vốn cho cơ sở hạ tầng

Dù vay các TCTD trong nước hay quốc tế; vay vốn ưu đãi hay vay thương mại thì yêu cầu hàng đầu vẫn là sử dụng vốn hiệu quả, đảm bảo hoàn trả vốn vay đúng hạn... 

Không để doanh nghiệp đủ điều kiện không tiếp cận được vốn
Thu hút đầu tư vẫn chờ lực đẩy từ hạ tầng
Ảnh minh họa

Hội nghị thường niên lần thứ 4 Hội đồng Thống đốc Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) vừa được tổ chức tại Luxembourg. Lãnh đạo của 97 nước thành viên, các tổ chức tài chính, ngân hàng quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, các NHTM và các tổ chức tư nhân trong lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đã tham dự hội nghị này. Đoàn Việt Nam do Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú làm Trưởng đoàn đã tham dự các sự kiện của hội nghị.

AIIB được thành lập năm 2016 và Việt Nam là một trong những thành viên sáng lập của ngân hàng này. Trong khuôn khổ hội nghị, Đoàn công tác của Việt Nam đã có cuộc gặp xã giao với Phó Chủ tịch phụ trách Chiến lược của AIIB – ông Joachim von Amsberg.

Tại cuộc gặp, Phó Thống đốc Đào Minh Tú đánh giá cao việc AIIB thành lập Ban Quan hệ khách hàng để xây dựng Chương trình Đầu tư quốc gia nhằm phát huy hiệu quả nguồn vốn AIIB cho phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước thành viên. Phó Thống đốc mong muốn ông Joachim von Amsberg sẽ chỉ đạo bộ phận nghiệp vụ này sớm xây dựng được Chương trình Đầu tư quốc gia dành riêng cho Việt Nam, phù hợp với bối cảnh và điều kiện hiện tại của Việt Nam.

Đáp lại lời của Phó Thống đốc, Lãnh đạo cấp cao AIIB cam kết tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bên liên quan của Việt Nam để tìm hiểu nhu cầu, cung cấp sản phẩm tài chính linh hoạt, phù hợp với bối cảnh và nhu cầu của Việt Nam để hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng...

Nhu cầu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng trong giai đoạn hiện nay rất lớn. Theo ước tính của WB, nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng bền vững của Việt Nam sẽ lên tới 25 tỷ USD mỗi năm. Đặc biệt, theo tính toán của Bộ Giao thông - Vận tải nhu cầu vốn đầu tư cho hạ tầng giao thông giai đoạn 2021 - 2030 sơ bộ khoảng trên 2 triệu tỷ USD. Đầu tư cho giao thông đang là nhu cầu cấp thiết. Với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam hiện nay vốn đầu tư vẫn phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng.

Do đó, dù biết rủi ro tiềm ẩn các NHTM cũng khó có thể từ chối các dự án BOT giao thông. Báo cáo của NHNN gửi các đại biểu Quốc hội cho biết: Đến cuối tháng 3/2019, dư nợ tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông ước đạt 103.573 tỷ đồng, giảm 3,43%, chiếm 1,39%. Quan điểm của ngành Ngân hàng là tăng cường quản lý rủi ro đối với các dự án BOT, BT giao thông.

NHNN nhận định, việc cấp tín dụng đối với các dự án BOT, BT giao thông tiềm ẩn rủi ro trong dài hạn vì đây là các dự án có tổng mức đầu tư lớn, thời gian cho vay dài; năng lực tài chính của chủ đầu tư hạn chế; tài sản đảm bảo chủ yếu là quyền thu phí trong khi chính sách phí chưa thực sự ổn định; nguy cơ chuyển nợ sang nhóm nợ xấu rất lớn...

Bên cạnh đó, với việc NHNN đang đề xuất lộ trình giảm dần tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn sử dụng để cho vay trung dài hạn về còn 30% trong 2-3 năm tới, chắc chắn các ngân hàng sẽ phải siết chặt hơn việc cấp tín dụng cho các dự án BOT, BT giao thông khi mà hiện nguồn vốn của các ngân hàng đa phần là ngắn hạn, trong khi thời hạn của các dự án BOT, BT giao thông lại rất dài, nhiều khi tới 30 năm.

Trong bối cảnh đó, sự tham gia của các định chế tài chính quốc tế trong việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là rất quan trọng và cần thiết. Được biết AIIB vừa phát hành trái phiếu toàn cầu đầu tiên vào tháng 5/2019, huy động 2,5 tỷ USD với kỳ hạn 5 năm, lãi suất coupon là 2,25%. Đi vay để cho vay thương mại thì tất yếu lãi suất cho vay của AIIB không phải là ưu đãi.

Chưa kể, ngoài lãi suất họ sẽ có những yêu cầu kèm theo. Nhưng cơ sở hạ tầng tốt là nền tảng cho phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Do đó việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng rất quan trọng. Là một nước có thu nhập trung bình Việt Nam không còn được tiếp cận nhiều nguồn vốn ưu đãi quốc tế như trước.

Tuy nhiên, dù vay các TCTD trong nước hay quốc tế; vay vốn ưu đãi hay vay thương mại thì yêu cầu hàng đầu vẫn là sử dụng vốn hiệu quả, đảm bảo hoàn trả vốn vay đúng hạn. Nếu không giữ được uy tín, nhà đầu tư sẽ khó để đàm phán vay vốn, đặc biệt cho các khoản vay lớn, dài hạn.

Nguồn :

Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.297 26.166 29.566 30.070 201,27 214,45
BIDV 23.120 23.240 25.379 26.130 29.660 30.225 205,48 212,22
VietinBank 23.112 23.242 25.301 26.136 29.534 30.174 208,30 214,30
Agribank 23.110 23.220 25.303 25.695 29.589 30.073 208,69 212,49
Eximbank 23.105 23.215 25.318 25.668 29.675 30.085 209,53 212,43
ACB 23.100 23.220 25.332 25.681 29.761 30.096 209,61 212,50
Sacombank 23.064 23.226 25.323 25.778 29.711 30.122 208,67 213,20
Techcombank 23.092 23.232 25.085 26.078 29.351 30.273 208,07 215,18
LienVietPostBank 23.120 23.220 25.257 25.731 29.696 30.142 209,11 213,04
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.370
41.610
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.370
41.590
Vàng SJC 5c
41.370
41.610
Vàng nhẫn 9999
41.350
41.760
Vàng nữ trang 9999
40.790
41.590