ADB nâng dự báo tăng trưởng của kinh tế Việt Nam

10:07 | 11/12/2019

Trong một ấn bản bổ sung vừa công bố của báo cáo Cập nhật Triển vọng Phát triển châu Á 2019, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam từ 6,8% lên 6,9% trong năm 2019 và từ 6,7% lên 6,8% trong năm 2020.    

adb nang du bao tang truong cua kinh te viet nam
ADB điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng cho cả khu vực châu Á đang phát triển, song nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam trong 2019 và 2020

Theo ấn bản bổ sung này, ADB dự báo GDP của khu vực châu Á đang phát triển chỉ tăng 5,2% cho cả năm 2019 và 2020, giảm 0,2% so với con số dự báo đưa hồi tháng 9 là 5,4% cho năm nay và 5,5% vào năm sau. Một trong nhưng nguyên nhân chính là do tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc và Ấn Độ dự báo giảm sút.

Trong đó, tăng trưởng của Trung Quốc hiện được dự kiến đạt 6,1% trong năm nay và 5,8% trong năm tới, do căng thẳng thương mại và tình trạng suy giảm hoạt động toàn cầu, kết hợp với nhu cầu nội địa suy yếu khi ngân sách của các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi giá thịt lợn đã tăng gần gấp đôi so với năm ngoái.

Tuy nhiên báo cáo cũng cho rằng, tăng trưởng của Trung Quốc có thể bứt tốc nếu Hoa Kỳ và Trung Quốc đạt được một thỏa thuận về thương mại. Trong tháng 9, ADB dự báo tăng trưởng GDP của Trung Quốc là 6,2% trong năm 2019 và 6,0% vào năm 2020.

Với Ấn Độ, tăng trưởng được dự báo đạt mức thấp hơn là 5,1% trong năm tài khóa 2019, do thua lỗ của một công ty tài chính phi ngân hàng lớn trong năm 2018 đã dẫn tới tâm lý e ngại rủi ro trong lĩnh vực tài chính và thắt chặt tín dụng. Đồng thời, tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi tăng trưởng việc làm thấp và khó khăn ở khu vực nông thôn do mất mùa. Nhưng tăng trưởng có thể phục hồi mạnh trở lại, lên tới 6,5% trong năm tài khóa 2020 với các chính sách hỗ trợ. Trong tháng 9, ADB đã dự báo mức tăng GDP của Ấn Độ là 6,5% trong năm 2019 và 7,2% vào năm 2020.

Chuyên gia Kinh tế trưởng của ADB, ông Yasuyuki Sawada, nhận định: “Mặc dù tốc độ tăng trưởng ở châu Á đang phát triển vẫn vững vàng, song căng thẳng thương mại kéo dài đã ảnh hưởng tiêu cực tới khu vực và hiện đang là nguy cơ lớn nhất đối với triển vọng kinh tế trong dài hạn. Đầu tư trong nước cũng đang giảm sút ở rất nhiều quốc gia do niềm tin kinh doanh suy yếu. Mặt khác, lạm phát đang gia tăng trong bối cảnh giá lương thực cao hơn, do dịch tả lợn Châu Phi khiến giá thịt lợn tăng lên đáng kể.”

Ấn bản bổ sung này dự báo lạm phát ở mức 2,8% trong năm 2019 và 3,1% vào năm 2020, tăng so với con số dự báo hồi tháng 9 là 2,7% trong cả năm nay và năm sau.

Ở Đông Nam Á, rất nhiều quốc gia tiếp tục chứng kiến xuất khẩu sụt giảm và đầu tư suy yếu, cùng với đó là mức dự báo tăng trưởng bị hạ thấp đối với Singapore và Thái Lan.

Tuy nhiên riêng tại Việt Nam đã ghi nhận mức tăng trưởng GDP trong ba quý đầu năm 2019 đạt 7,0% - mức cao nhất so với cùng kỳ trong chín năm qua. Tiêu dùng cá nhân tăng 7,3%, trong khi đầu tư tăng 7,7% nhờ môi trường kinh doanh được cải thiện, niềm tin của các nhà đầu tư được duy trì và sự gia tăng đầu tư trực tiếp nước ngoài.

ADB nhận định xu hướng này nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì trong quý 4 và năm sau. Do đó dự báo tăng trưởng cho Việt Nam đã được điều chỉnh tăng từ 6,8% lên 6,9% trong năm 2019 và từ 6,7% lên 6,8% trong năm 2020.

ĐP

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950