Bức tranh kinh tế Mỹ dần sáng

10:08 | 19/03/2021

Dự kiến ít nhất đến năm 2022, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) mới tăng lãi suất và thay đổi chính sách điều hành.

Giữ nguyên lãi suất dù áp lực đã gia tăng

Kết thúc cuộc họp chính sách 2 ngày 16-17/3 của Ủy ban Thị trường Mở (FOMC), Fed đã quyết định giữ nguyên lãi suất chính sách ở mức thấp (từ 0 - 0,25%) và tiếp tục duy trì chương trình mua tài sản ít nhất 120 tỷ USD mỗi tháng. Như vậy đây là lần thứ 8 liên tiếp Fed giữ nguyên lãi suất sau lần hạ lãi suất về mức hiện tại vào tháng 3/2020.

Chủ tịch Fed Jerome Powell cho rằng, chính sách tiền tệ (CSTT) hiện tại là phù hợp và chưa có lý do để Fed phải hành động nhằm ngăn đà tăng lợi tức trái phiếu kho bạc. "Chúng tôi tin lập trường CSTT hiện nay là phù hợp", ông Powell nói trong cuộc họp báo trực tuyến hôm thứ Tư ngay sau khi kết thúc cuộc họp chính sách vừa qua. “Chúng tôi cũng tin rằng, mức mua vào tài sản hiện tại của Fed - 80 tỷ USD trái phiếu kho bạc, 40 tỷ USD chứng khoán được bảo đảm bằng thế chấp - là thích hợp. Fed sẽ tiếp tục mua tài sản với tốc độ này cho đến khi thấy nền kinh tế có những tiến triển đáng kể hơn nữa. Và đó phải là những tiến triển trên thực tế, chứ không phải chỉ là tiến triển theo dự báo”, ông cho biết thêm.

Trước quyết định trên của Fed, các chuyên gia kinh tế Carl Riccadonna, Yelena Shulyatyeva, Andrew Husby và Eliza Winger của Bloomberg Economics đã đưa ra nhận định cho rằng, Fed sẽ tiếp tục giữ vững lộ trình hiện nay, cả về lãi suất và chương trình mua tài sản, nhiều khả năng sẽ không sớm thay đổi quỹ đạo đó.

buc tranh kinh te my dan sang
Biểu đồ Dot Plot mới nhất dự báo về xu hướng lãi suất của Fed

Biểu đồ Dot Plot mới nhất - biểu đồ theo quý thể hiện dự đoán về lãi suất của các thành viên FOMC - cũng cho thấy, khả năng sớm tăng lãi suất trở lại sẽ không xảy ra. Cụ thể, không có thành viên nào kỳ vọng sẽ tăng lãi suất ngay trong năm nay; có 4 trong số 18 thành viên FOMC muốn tăng lãi suất trong năm 2022; 7 thành viên muốn tăng trong năm 2023 (trước đó theo biểu đồ Dot Plot tháng 12/2020, số thành viên muốn tăng lãi suất trong năm 2022 chỉ là 1 và năm 2023 là 5). Tuy điều này cho thấy số thành viên FOMC muốn dần thoát khỏi CSTT siêu nới lỏng đã tăng lên nhưng điều này dường như chỉ xảy ra ít nhất vào năm 2022.

Trước đó thị trường và các NĐT lo ngại việc nền kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi tốt và được “tiếp sức” bởi gói cứu trợ 1.900 tỷ USD mới đây, cùng với đó là lạm phát tăng nhanh, lợi tức trái phiếu kho bạc cũng lên mức cao nhất trong hơn 1 năm qua… sẽ là những yếu tố buộc Fed sẽ phải tăng lãi suất nhanh hơn dự kiến.

Kỳ vọng kinh tế khả quan

Các quan chức Fed dự đoán, lạm phát sẽ tăng dần và có thể ở mức 2,4% trong năm nay (nếu loại trừ giá lương thực và năng lượng, lạm phát được dự báo ở mức 2,2%) - cao hơn mức dự báo 1,8% được đưa ra vào tháng 12/2020 và cao hơn một chút so với mục tiêu 2% đặt ra. Tuy nhiên, Fed cho rằng không có lý do phải lo lắng về điều này vì lạm phát tăng chỉ là tạm thời. Theo đó Fed dự báo lạm phát sẽ giảm xuống mức 2% vào năm 2022.

Dù quyết định giữ nguyên lãi suất và quy mô chương trình mua vào tài sản nhưng Fed cũng đưa ra góc nhìn lạc quan hơn về tăng trưởng kinh tế và cải thiện việc làm trong năm nay. Cụ thể trong phần cập nhật triển vọng kinh tế quý mới nhất, các quan chức Fed dự báo tốc độ tăng GDP ở mức 6,5% trong năm nay, tăng đáng kể so với mức dự báo 4,2% đưa vào tháng 12 năm ngoái. Việc triển khai tiêm vắc-xin Covid-19, cùng với sự thúc đẩy từ các gói kích thích tài chính của Chính phủ là những cơ sở chính để Fed kỳ vọng về tương lai kinh tế tươi sáng hơn. Nếu đạt được trong thực tế, đây sẽ là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 1984 – năm ghi nhận kinh tế Mỹ tăng trưởng 7,2%.

Cũng theo dự báo kinh tế của FOMC, tăng trưởng GDP sau đó sẽ hạ nhiệt trong những năm kế tiếp, đạt 3,3% và 2,2% tương ứng cho các năm 2022 và 2023 trước khi về mức 2,3% trong dài hạn. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp dự kiến sẽ giảm xuống 4,5% vào cuối năm nay (tức cũng cải thiện so với mức 5% của dự báo tháng 12/2020). Tính đến tháng 2 vừa qua, tỷ lệ thất nghiệp đang ở mức 6,2%. Đến năm 2023, Fed dự báo tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống mức 3,5% - tương tương mức trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát.

Giới phân tích nhận định, việc cùng lúc Fed giữ nguyên CSTT nới lỏng và đưa ra dự báo tích cực về triển vọng kinh tế và việc làm (trong khi không mấy lo ngại lạm phát và lợi suất trái phiếu tăng) cho thấy Fed ưu tiên hơn trong hỗ trợ sự phục hồi của kinh tế Mỹ. Vì vậy, nhiều khả năng chỉ khi thấy được những tiến triển đáng kể và thực sự về tăng trưởng, thị trường việc làm… như ông Powell đã khẳng định thì Fed mới bắt đầu xu hướng thay đổi chính sách. “Chủ tịch Fed đã đưa ra thông điệp khá rõ ràng rằng ông ấy hài lòng về tốc độ phục hồi ngày càng tăng hiện nay. Nhưng điều đó chưa thể dẫn đến thay đổi trong khuôn khổ điều hành CSTT hiện tại, cũng như sẽ chưa buộc Fed phải vội thắt chặt chính sách sớm hơn mức mà họ cho là cần thiết”, Michael Lorizio, chuyên gia giao dịch thu nhập cố định cấp cao tại Manulife Investment Management nhận định.

Hồng Quân

Nguồn:

Tags: Kinh tế Mỹ

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.930 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.955 23.155 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.947 23.157 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.960 23.140 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.960 23.140 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.945 23.166 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.948 23.148 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.960 23.140 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.980 23.140 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.750
56.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.750
56.100
Vàng SJC 5c
55.750
56.120
Vàng nhẫn 9999
52.050
52.650
Vàng nữ trang 9999
51.650
52.350