Bước đi hợp lý, hài hòa các mục tiêu

08:11 | 19/03/2020

Động thái giảm một loạt các mức lãi suất điều hành đã phần nào cho thấy quyết tâm của NHNN trong việc hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, hỗ trợ nền kinh tế vượt qua những khó khăn do dịch Covid-19 gây ra.

Chuyên gia kinh tế: Giảm lãi suất kịp thời hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế
Giảm các lãi suất điều hành: NHNN phát tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ các TCTD khi cần tiếp cận vốn
Quyết định hợp lý cả về thời điểm và mức độ

NHNN vừa có các quyết định giảm một loạt các mức lãi suất điều hành, mức cắt giảm cũng khá lớn 0,5 đến 1 điểm phần trăm, thay vì chỉ cắt giảm có 0,25 điểm phần trăm như thời điểm tháng 9 năm 2019. Điểm đáng chú ý nữa là không như năm 2019 khi mà các mức lãi suất điều hành đã được điều chỉnh giảm từ giữa tháng 9, song phải hai tháng sau đó (ngày 19/11) NHNN mới giảm trần lãi suất huy động và cho vay ngắn hạn bằng VND. Lần này, NHNN cùng lúc thực hiện giảm ngay các mức lãi suất này.

Động thái mạnh mẽ này đã phần nào cho thấy quyết tâm của NHNN trong việc hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, hỗ trợ nền kinh tế vượt qua những khó khăn do dịch Covid-19 gây ra. Đây là bước đi hoàn toàn hợp lý của nhà điều hành khi mà làn sóng cắt giảm lãi suất đang diễn ra mạnh mẽ tại nhiều nền kinh tế, kể cả các nền kinh tế phát triển trong bối cảnh dịch Covid-19 đang đe dọa đẩy kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái.

Ảnh minh họa

Đơn cử chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã có hai lần thực hiện cắt giảm lãi suất khẩn cấp bên ngoài một cuộc họp chính sách, mức cắt giảm cũng rất lớn. Chưa dừng lại ở đó, Fed còn tái khởi động lại chương trình mua tài sản, hay còn gọi là chương trình nới lỏng định lượng để hỗ trợ nền kinh tế của mình. Nhiều NHTW lớn khác như NHTW châu Âu, NHTW Nhật Bản, NHTW Anh, NHTW Canada… cũng có hành động tương tự.

Trong khi đó, trong nước áp lực lạm phát đã dịu bớt do giá dầu thế giới giảm mạnh, kéo giá xăng dầu trong nước giảm theo. Đó là một trong những điều kiện cơ sở để NHNN thực hiện cắt giảm lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế vượt qua những khó khăn do dịch Covid-19 gây ra. Việc giảm mạnh các mức lãi suất điều hành cho thấy NHNN sẵn sàng cung ứng nguồn vốn chi phí thấp hơn để hỗ trợ, khuyến khích các NHTM mạnh dạn hơn trong cơ cấu lại nợ, giảm lãi suất cho vay đối với các khoản vay mới với doanh nghiệp.

Không chỉ hợp lý về thời điểm mà liều lượng cắt giảm của nhà điều hành cũng phù hợp với diễn biến của nền kinh tế trong nước và sức khỏe của hệ thống ngân hàng; hài hòa với mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Nói như TS. Võ Trí Thành - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, động thái điều chỉnh chính sách của NHNN mặc dù mạnh hơn so với giai đoạn trước, song cũng “đủ thận trọng” để vừa vẫn kiểm soát được lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh lạm phát Việt Nam chưa phải là thấp.

Quả vậy, lạm phát vẫn là một ẩn số khó lường và được nhiều tổ chức xem là một lực cản lớn nhất đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ trong năm nay. Trên thực tế, tuy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2 giảm 0,17% so với tháng trước, song mức giảm là khá thấp so với các tháng sau Tết của nhiều năm trở lại đây. Trong khi lạm phát tính theo năm vẫn tăng tới 5,4%; lạm phát bình quân cũng tăng tới 5,91% đều là mức cao nhất trong 7 năm trở lại đây.

Chưa kể, mặc dù giá dầu thế giới đang giảm mạnh, song chủ yếu xuất phát từ bất đồng giữa Nga và Ảrập Xêút trong việc cắt giảm sản lượng; vì vậy nếu hai bên giải quyết được những bất đồng này, giá dầu rất có thể sẽ phục hồi. Trong khi giá thịt lợn hiện vẫn đứng ở mức cao, kéo theo giá của nhiều thực phẩm khác; giá các vật tư y tế cũng được dự báo sẽ tăng do dịch bệnh…

Trong bối cảnh đó, rõ ràng sự thận trọng của nhà điều hành trong việc cắt giảm lãi suất là điều cần thiết. Không chỉ căn theo lạm phát mà động thái chính sách của NHNN còn tính tới cả “sức khỏe” cũng như thực tế hiện tại của hệ thống ngân hàng. Theo đó, NHNN chỉ giảm nhẹ lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng (lãi suất trên 6 tháng vẫn theo cơ chế thỏa thuận) sẽ tạo điều kiện cho TCTD cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng kéo dài kỳ hạn, qua đó TCTD thuận lợi hơn trong việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí nhằm hỗ trợ khách hàng theo quy định tại Thông tư số 01/2020/TT-NHNN.

Đặc biệt, theo TS. Võ Trí Thành, liều lượng cắt giảm dù mạnh song “vẫn tạo ra dư địa nhất định để vào thời điểm cần thiết cơ quan này vẫn có thể tiếp tục làm mạnh hơn trên cơ sở vẫn đảm bảo kinh tế vĩ mô”.

Nói về định hướng điều hành chính sách thời gian tới, ông Phạm Thanh Hà - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN) cho biết, NHNN sẽ tiếp tục theo dõi sát tình hình kinh tế vĩ mô, đặc biệt diễn biến thị trường tài chính toàn cầu (lãi suất, tỷ giá, giá dầu…) qua đó cập nhật, phân tích, dự báo để sử dụng linh hoạt, đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ tại thời điểm và với liều lượng hợp lý.

Tuy nhiên, như đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế cả trong và ngoài nước, không chỉ với Việt Nam mà với cả các nền kinh tế phát triển, đó là một mình chính sách tiền tệ không thể giải quyết được tận gốc những khó khăn do dịch Covid-19 gây ra cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế. Trong bối cảnh hiện nay, chính sách tiền tệ rất cần có sự chia lửa từ chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác.

Xuân Hải

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.970 23.170 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.963 23.173 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.960 23.182 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.968 23.168 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.450
55.820
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.450
55.800
Vàng SJC 5c
55.450
55.820
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.300
Vàng nữ trang 9999
51.300
52.000