Cần chủ động, quyết liệt và linh hoạt để giữ được đà phục hồi tích cực

15:59 | 30/09/2022

Thúc đẩy triển khai nhanh và hiệu quả giải ngân đầu tư công; tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và tận dụng tốt đà phục hồi mạnh mẽ hiện nay sẽ giúp nền kinh tế vượt mục tiêu tăng trưởng đặt ra trong năm nay. Bà Nguyễn Thị Hương, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê nói khi trao đổi với Thoibaonganhang.vn.

can chu dong quyet liet va linh hoat de giu duoc da phuc hoi tich cuc
Bà Nguyễn Thị Hương.

Dường như chúng ta đang đi đúng hướng và rất nhanh chóng để quay lại với "bình thường mới" như trước đại dịch, khi tăng trưởng, lạm phát và tình hình sản xuất kinh doanh, thương mại quốc tế trong 9 tháng đầu năm nay đều cho thấy rất nhiều khởi sắc. Theo bà, tình hình kinh tế năm nay sẽ như thế nào?

Năm 2021, tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 2,56%, kết quả này thấp nhất trong vòng 10 năm qua nhưng đã là một sự nỗ lực rất lớn của Việt Nam trước những tác động nghiêm trọng của dịch Covid-19.

Bước sang 2022, hoạt động kinh tế của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, từ xung đột, căng thẳng địa chính trị ngày càng gia tăng và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt đến giá xăng dầu, nguyên vật liệu, lương thực tăng khiến lạm phát tăng cao ở hầu hết các nước, buộc nhiều ngân hàng trung ương phải thắt chặt chính sách tiền tệ.

Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã ban hành và thực hiện quyết liệt các chính sách, giải pháp nhằm khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, đối phó với diễn biến lạm phát tăng cao cũng như áp lực tăng giá. Kết quả tăng trưởng quý III (tăng 13,67% so với cùng kỳ năm trước) và 9 tháng đầu năm 2022 (tăng 8,83%) là một minh chứng cho sự phục hồi mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam, mở ra triển vọng tích cực cho cả 2022.

Bước sang quý IV tới, nền kinh tế tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Tuy vậy, các doanh nghiệp vẫn đang được hưởng những lợi ích nhất định từ gói kích thích kinh tế nên nếu tận dụng được và tranh thủ thị trường thế giới để phát huy thế mạnh thì cơ hội cho doanh nghiệp tăng trưởng vẫn khả quan.

Bên cạnh đó, môi trường vĩ mô ổn định, các chính sách của Nhà nước để duy trì và phát triển nền kinh tế sau dịch vẫn có hiệu quả, cũng như sự phục hồi trở lại của nhiều ngành trong đó có ngành dịch vụ… Đây là nền tảng, cơ sở cho hoạt động kinh tế trong nước thuận lợi, kỳ vọng tăng trưởng tốt trong những tháng cuối năm.

Căn cứ kết quả GDP quý III và 9 tháng đầu năm 2022 cùng với ước tính tăng trưởng sản xuất của các ngành, khu vực kinh tế; đồng thời bám sát, đánh giá hiệu quả của các chính sách điều hành kinh tế, Tổng cục Thống kê đã cập nhật kịch bản tăng trưởng kinh tế cho cả năm 2022 và dự báo năm 2023. Kết quả dự báo tăng trưởng năm 2022 có thể đạt từ 7,5-8%, vượt mục tiêu tăng trưởng đề ra.

Trong nỗ lực cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát trong nước và trước áp lực nhiều ngân hàng trung ương lớn tiếp tục thắt chặt mạnh tiền tệ, bà đánh giá thế nào về điều hành chính sách tiền tệ thời gian qua, và khuyến nghị gì cho thời gian tới đây?

Trong bối cảnh lạm phát toàn cầu tăng cao, nhiều đồng tiền mạnh mất giá nhanh chóng khiến nhiều ngân hàng trung ương phải nâng lãi suất, NHNN đã bình tĩnh điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt, khéo léo qua đó giúp ổn định tỷ giá, đảm bảo cân đối dự trữ ngoại hối, an toàn cho toàn hệ thống ngân hàng và kiểm soát khá tốt lạm phát trong nước.

Tuy nhiên, là một nước có độ mở kinh tế lớn, Việt Nam không thể né tránh hoàn toàn được làn sóng lạm phát trên thế giới mà chỉ có thể kìm giữ, kéo dài thời gian lạm phát gia tăng mạnh hơn so với các nước. Do đó, việc NHNN vừa qua công bố tăng lãi suất điều hành, trần lãi suất tiền gửi ngắn hạn... cũng là việc bình thường và trong tầm kiểm soát. Từ đây, có thể thấy Việt Nam đã bắt đầu điều chỉnh chính sách tiền tệ theo hướng thu hẹp hơn thời gian qua, chấp nhận khó khăn đầu tư tạm thời để có thể kiểm soát tốt áp lực lạm phát, tránh rủi ro cho hệ thống ngân hàng, ổn định kinh tế vĩ mô, bình ổn tâm lý của doanh nghiệp và người dân

Tuy vậy, chúng ta không thể chủ quan trước rủi ro lạm phát và các áp lực liên quan khác. Nên tôi cho rằng, trong thời gian tới, NHNN cần tiếp tục điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ, sử dụng phối hợp các công cụ tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng tín dụng hợp lý, lựa chọn thứ tự ưu tiên phù hợp, duy trì ổn định để cố gắng tiến dần đến giảm lãi suất cho vay.

Cùng với đảm bảo thanh khoản cho nền kinh tế và toàn hệ thống ngân hàng, cần tập trung điều hành nhằm hướng tín dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh; hạn chế và kiểm soát chặt luồng tín dụng đi vào các lĩnh vực đầu tư kém hiệu quả, rủi ro cao.

Đẩy nhanh triển khai hiệu quả gói hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay, bởi việc tăng mặt bằng lãi suất huy động vốn sẽ gây sức ép lên mặt bằng lãi suất cho vay trong những tháng tới. Nếu được triển khai tốt, gói cấp bù lãi suất 2% sẽ giúp bù đắp phần nào sức ép tăng lãi suất cho vay do lãi suất huy động tăng, cũng như tiến tới có thể giúp giảm lãi suất cho vay.

Điều hành tỷ giá linh hoạt, phù hợp nhằm ổn định tỷ giá và thị trường ngoại tệ, góp phần thực hiện kiểm soát lạm phát nhập khẩu.

Kết hợp đồng bộ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác đảm bảo hiệu quả trên nguyên tắc bảo đảm an ninh, an toàn về tiền tệ, tín dụng, tài chính, nợ công, lương thực, năng lượng, thông tin; hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng cả phía cung và phía cầu.

Với tư cách là cơ quan thống kê quốc gia, theo sát tình hình và diễn biến kinh tế, thường xuyên khuyến nghị với Chính phủ các giải pháp hỗ trợ và phục hồi tăng trưởng, trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ ngày càng thu hẹp nhưng các hỗ trợ mạnh mẽ hơn từ phía chính sách tài khóa, nhất là chủ trường quyết liệt giải ngân vốn đầu công... của Chính phủ, bà nhìn nhận thế nào về các giải pháp này, đồng thời kỳ vọng, đề xuất gì?

Trong bối cảnh rủi ro, thách thức còn rất nhiều hiện nay, việc đẩy mạnh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công là rất quan trọng. Nguồn vốn đầu tư công khi đưa vào thực hiện sẽ góp phần tạo công ăn việc làm, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của một số ngành, lĩnh vực liên quan, làm tăng sức cầu của nền kinh tế, giúp Việt Nam thực hiện hiệu quả, thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 đã đề ra.

Trong thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị quyết, công điện, văn bản chỉ đạo về thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công; thành lập 06 Tổ công tác kiểm tra, đôn đốc thực hiện; cũng như đưa ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp, yêu cầu các Bộ, ngành và địa phương phải tập trung, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo.

Đặc biệt, ngày 15/9/2022, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 124/NQ-CP về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công những tháng cuối năm 2022 với nhiều nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm nhằm đạt được mục tiêu thực hiện và giải ngân từ 95% đến 100% kế hoạch năm 2022.

Vốn đầu tư công 9 tháng đầu năm thực hiện ước đạt 58,7% kế hoạch vốn năm 2022. Mức này dù đã cao hơn so với cùng kỳ của 2 năm (2020 và 2021) bị ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19, nhưng vẫn chưa đạt kỳ vọng (kỳ vọng 9 tháng đầu năm phải đạt trên 65% kế hoạch).

Như vậy, để đạt được mục tiêu đề ra tại Nghị quyết 124/NQ-CP là một thách thức lớn, cần sự nỗ lực cao, dốc tâm dốc sức của tất cả các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục chỉ đạo triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đặc biệt cần phải thực hiện theo phương châm “làm ngày làm đêm”, tập trung tháo gỡ kịp thời và hiệu quả các khó khăn vướng mắc trong tổ chức triển khai thực hiện thì kết quả mới có khả năng đạt được mục tiêu đề ra, qua đó góp phần quan trọng phục hồi nhanh và phát triển bền vững, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 đã đề ra.

Để có những chuyển biến nhanh hơn nữa việc thực hiện và giải ngân nguồn vốn đầu tư công các tháng còn lại của năm 2022, tôi cho rằng các Bộ, ngành và địa phương cần thực hiện nghiêm pháp luật về đầu tư công, nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư cho dự án; tiếp tục rà soát, hoàn thiện theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền sửa đổi quy định pháp luật, cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư công, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư công.

Quyết liệt triển khai các giải pháp đã đề ra tại các Nghị quyết số 11/NQ-CP, Nghị quyết số 124/NQ-CP, các Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Tập trung đẩy mạnh thực hiện và giải ngân dự án lớn, trọng điểm bảo đảm hiệu quả, chất lượng; nỗ lực hoàn thành một số dự án trọng điểm, tạo động lực mới phát triển ngành, lĩnh vực và địa phương.

Theo tôi, tổ công tác của các bộ, ngành, địa phương cần thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, xử lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc một cách kịp thời, hiệu quả; yêu cầu Ban quản lý dự án, nhà thầu có tiến độ tổng thể, chi tiết, ký cam kết về tiến độ hoàn thành dự án nhằm đẩy mạnh tiến độ giải ngân; cần ban hành kế hoạch thực hiện và giải ngân cho từng chủ đầu tư và yêu cầu cam kết tiến độ thực hiện và giải ngân của dự án, trường hợp không đạt tiến độ cam kết sẽ kiên quyết xem xét điều chuyển vốn cho dự án có tiến độ thực hiện và giải ngân tốt và cần bổ sung vốn; đồng thời, cần chủ động điều hòa, điều chỉnh kế hoạch vốn năm giữa các dự án nhằm đảm bảo sử dụng hiệu quả kế hoạch vốn đầu tư công năm 2022; chỉ đạo các chủ đầu tư, đơn vị liên quan khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, làm thủ tục thanh toán giải ngân ngay khi có khối lượng hoàn thành, không để dồn đến cuối năm.

Chúng ta cần phân công các lãnh đạo chịu trách nhiệm theo dõi tiến độ từng dự án để đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nảy sinh. Kết quả thực hiện và giải ngân của các dự án sẽ là căn cứ chủ yếu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ năm 2022 của lãnh đạo được phân công theo dõi, chủ đầu tư dự án và cá nhân liên quan.

Chính phủ cần có chính sách để điều tiết, kiểm soát giá nguyên vật liệu xây dựng, nguồn cung vật liệu xây dựng. Kiên quyết siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát, hậu kiểm, xử lý nghiêm vi phạm.

Xin cảm ơn bà!

Lê Đỗ thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.624 24.854 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.654 24.854 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.635 24.855 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.854 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.854 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.698 24.854 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.692 24.852 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.854 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.854 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.600
Vàng SJC 5c
66.600
67.620
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750