Cây công nghiệp trên Tây Nguyên: Cần có chiến lược phát triển bền vững

15:00 | 15/08/2018

Hiện nay, diện tích cây công nghiệp trên địa bàn Tây Nguyên chủ yếu do người dân trồng tự phát, kiểm nghiệm qua thực tiễn, chứ chưa có một công trình khoa học nghiên cứu bài bản về mọi mặt...

Đừng bỏ mặc nông dân
Trả giá từ việc phát triển nóng

Làm sao phát triển nông nghiệp đúng hướng; quy mô, diện tích từng loại cây trồng ở khu vực Tây Nguyên như thế nào, luôn là đề tài nóng tại các diễn đàn kinh tế nông nghiệp. Đồng thời, đây cũng là vấn đề được các nhà khoa học, chuyên gia, cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và nông dân quan tâm. Trong đó, quy hoạch vùng sản xuất gắn với từng tiểu vùng khí hậu được nhiều người đề cập.

Các chuyên gia cho rằng, các địa phương Tây Nguyên cần có chiến lược phát triển bền vững

Thực tế là hiện các địa phương ở Tây Nguyên hoặc chưa có quy hoạch riêng về phát triển cho từng loại cây trồng, hoặc mất kiểm soát trong phát triển diện tích cây trồng… dẫn đến sự phát triển không bền vững trong sản xuất nông nghiệp, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho người nông dân.

Chính nguyên nhân này, tại khu vực Tây Nguyên vẫn luôn hiện hữu điệp khúc “trồng – chặt” hay là “được mùa – mất giá”.

Trở lại câu chuyện đầu tư, vào những năm 2005-2010, hàng loạt người dân ở khu vực này ào ạt chặt phá các loạt cây trồng hiện có để chạy theo giấc mơ “vàng trắng”. Hàng ngàn hecta cây trồng như điều, cà phê và nhiều lại cây trồng ngắn ngày khác bị người dân chặt phá không thương tiếc để trồng cây cao su. Giá mủ cao su thời điểm đó đang ở mức kịch trần. Với một hecta cao su kinh doanh tại thời điểm đó, người người trồng có thể lãi từ 4-5 triệu đồng/ha/ngày, sau khi trừ hết các chi phí.

Tuy nhiên, không lâu sau, từ cuối năm 2011 đến nay, giá cao su liên tục lao dốc và hiện đang xuất khẩu ở mức 1.432 USD/tấn. Bình quân 6 tháng đầu năm 2018, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam giảm 21% so với cùng kỳ năm 2017 do giá thế giới giảm.

Trước thực tế này, hàng loạt người dân tại các tỉnh Đăk Nông, Đăk Lăk, Gia Lai và Kon Tum một lần nữa bán thanh lý vườn cây, chặt phá để chuyển đổi cây trồng.

Tương tự, trong 4 năm gần đây, Tây Nguyên phát triển nóng hàng chục ngàn hecta hồ tiêu. Vào thời điểm năm 2015 -2016, đi bất cứ nơi đâu ở Tây Nguyên cũng nghe nói về câu chuyện trồng tiêu, người người trồng tiêu, nhà nhà trồng tiêu. Nhiều hộ gia đình không có đất phù hợp thổ nhưỡng vẫn phá đi những loại cây đang trồng phát triển tốt để trồng tiêu. Việc bất chấp những khuyến cáo và định hướng của chính quyền địa phương đã dẫn đến nhiều hệ lụy.

Tại các địa phương có diện tích trồng hồ tiêu lớn như Gia Lai, Đăk Lăk và Đăk Nông… giờ có thể thấy hầu hết các vườn tiêu đều có chung tình trạng không tươi tốt, um tùm như những năm trước. Theo nhiều người có kinh nghiệm trồng tiêu, đó là do biến đổi khí hậu, thời tiết thất thường tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng của cây tiêu.

Thậm chí, nhiều vườn tiêu tại Tây Nguyên bị nhiễm bệnh và lây lan trên diện rộng. Chỉ tính riêng huyện Chư Sê (Gia Lai)-nơi được mệnh danh “thủ phủ” hồ tiêu của cả nước, đã có diện tích trồng khoảng 3.000ha, sản lượng thu hoạch hàng năm trên 8.000 tấn hồ tiêu. Song các niên vụ gần đây, diện tích trồng thì liên tục tăng lên nhưng sản lượng thu hoạch lại èo uột.

Đi cùng với đó, giá hồ tiêu bắt đầu lao dốc từ hơn 2 năm trở lại đây. Cùng với việc giảm năng suất, điều này đã đẩy người nông dân vào cảnh lao đao. Việc đầu tư sản xuất nông nghiệp không có định hướng, và điệp khúc “trồng – chặt” đã lặp đi lặp lại khiến người nông dân không lối thoát.

Hiện nay, diện tích cây công nghiệp trên địa bàn Tây Nguyên chủ yếu do người dân trồng tự phát, kiểm nghiệm qua thực tiễn, chứ chưa có một công trình khoa học nghiên cứu bài bản về mọi mặt. Chính vì vậy, ít có khả năng làm chủ về giá đối với các loại cây công nghiệp. Các chuyên gia cho rằng, các địa phương Tây Nguyên cần có chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững.

Bài và ảnh Chí Thiện

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.550 23.860 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.550 23.830 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.530 23.830 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.530 23.830 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.560 23.830 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.600 24.100 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.615 24.165 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.539 23.850 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.600 23.890 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.400
Vàng SJC 5c
66.600
67.420
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750