Chiến lược với tầm nhìn dài hạn

08:10 | 24/01/2020

Có thể nói, đến thời điểm này hệ thống ngân hàng đã hoàn thành cơ bản được mục tiêu đặt ra trong giai đoạn đầu từ 2018 – 2020 như tiếp tục lành mạnh hóa tình hình tài chính, nâng cao năng lực quản trị của các TCTD theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế...

Tiếp tục đóng góp cho sự thịnh vượng của đất nước
Những cơ hội và hy vọng mới
Hệ thống ngân hàng mạnh khỏe sẽ là chỗ dựa vững chắc cho doanh nghiệp tiến ra biển lớn

Hệ thống ngân hàng đã có những tiến bộ vượt bậc

Trong 5 năm qua, đặc biệt từ năm 2018 – cũng là năm bắt đầu triển khai Quyết định 986 về Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đến nay, hệ thống ngân hàng đã có những bước phát triển vượt bậc. Chính sách tiền tệ ổn định, cẩn trọng, góp phần quyết định vào việc ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng. Công tác thanh tra giám sát ngân hàng cũng đã được đổi mới cả về cấu trúc tổ chức, chức năng nhiệm vụ quy trình giám sát nền tảng công nghệ và nguồn nhân lực, góp phần quan trọng vào sự ổn định của hệ thống các NHTM tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều ngân hàng có được những bước phát triển đột phá cả về sản phẩm dịch vụ, công nghệ thông tin và đặc biệt là nền tảng tài chính. 

Các NHTM mặc dù đang trong quá trình tái cơ cấu, nhưng đã đạt được những kết quả rất tích cực. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được cải thiện đáng kể, với mức tăng vốn điều lệ hàng năm của nhiều NHTMCP vượt mức tăng trung bình của các ngân hàng trong khu vực, ngoại trừ các NHTM quốc doanh và một số ngân hàng gặp khó khăn trong quá trình cơ cấu lại. Tốc độ tăng tổng tài sản NHTM cũng đã vượt quá mức trung bình của các ngân hàng trong khu vực và ý nghĩa hơn khi thực hiện trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng tín dụng bị kiểm soát chặt chẽ hơn.

Điều đó cũng cho thấy, các hoạt động phi tín dụng của các NHTM đã có những bước phát triển đột phá về chất lượng tài sản, biểu hiện rõ nhất là nợ xấu được khống chế dưới mức yêu cầu của chiến lược đặt ra đối với tài sản nội bảng.

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã được củng cố, khá vững chắc qua tốc độ tăng trưởng tiền gửi hợp lý. Cộng với các hoạt động về quản trị rủi ro thị trường tiền tệ khá tốt. Trong đó có sự phối hợp giữa thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu Chính phủ và thị trường tín phiếu NHTW khá nhịp nhàng theo mục tiêu của chính sách tiền tệ. Chính vì vậy, mặc dù trong giai đoạn này, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn còn khá cao nhưng thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn ổn định. 

Hệ thống quản trị ngân hàng đã được cải thiện một bước khá dài so với trước đây trên nền tảng chuẩn mực quốc tế về an toàn hệ thống và công nghệ thông tin. Nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng mới đã ra đời, phục vụ đắc lực cho sản xuất, tiêu dùng và cả các chính sách khác của Chính phủ như nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ, xuất khẩu… Một số NHTM của Việt Nam đã đạt được chuẩn mực về quản trị tương đương với các ngân hàng loại khá của khu vực và năng suất lao động trong ngành Ngân hàng đã tăng trưởng khá nhanh nhờ các sản phẩm dịch vụ mới như Mobile Banking, Internet Banking, ngân hàng số…

Chính vì tất cả những yếu tố nói trên đã làm cho nền tảng tài chính của các NHTM Việt Nam thay đổi cơ bản. Tỷ lệ lãi ròng trên tổng tài sản và lãi ròng trên vốn tự có đã tăng gấp đôi so với 5 năm trước đây, và đạt mức bình quân khu vực Đông Nam Á. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định sự ổn định và phát triển vững chắc của hệ thống ngân hàng trong tương lai.

Có thể nói, đến thời điểm này hệ thống ngân hàng đã hoàn thành cơ bản được mục tiêu đặt ra trong giai đoạn đầu từ 2018 – 2020 như tiếp tục lành mạnh hóa tình hình tài chính, nâng cao năng lực quản trị của các TCTD theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế. Điển hình là có tới 16 NHTM đã hoàn thành trước thời hạn Thông tư 41 về tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn Basel II. Tình trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo và sở hữu có tính chất thao túng, chi phối trong các TCTD có liên quan từng bước được xử lý và xóa bỏ…

Tầm nhìn dài hạn

Giai đoạn tới, từ nay đến 2025, vẫn còn rất nhiều những vấn đề cần phải thực hiện để đảm bảo đạt những mục tiêu chiến lược vạch ra. Trong đó theo tôi, quan trọng nhất là có 4 vấn đề sau. Thứ nhất là cần giải quyết dứt điểm một số ngân hàng đặc biệt yếu kém. Đây là những ngân hàng đang tạo ra khoản lỗ luỹ kế rất lớn có thể ảnh hưởng lâu dài đến hoạt động tiền tệ tín dụng. Để giải quyết các ngân hàng này, Chính phủ cần có những chính sách cởi mở nhằm khuyến khích các tập đoàn trong nước và tổ chức tài chính nước ngoài thuận lợi hơn để tham gia vào tái cơ cấu các ngân hàng này.

Thứ hai, khuyến khích các NHTM đẩy nhanh tốc độ số hoá hoạt động ngân hàng nhằm đuổi kịp các ngân hàng trong khu vực và đón đầu các hoạt động đầu tư thương mại, thanh toán hiện đại trên nền tảng công nghệ thông tin. Các ngân hàng Việt Nam đang tỏ ra rất dè dặt đầu tư vào công nghệ và số hoá do còn thiếu rất nhiều quy định pháp lý cũng như cơ chế giám sát đối với các loại hình dịch vụ tài chính mới. Và điều này khiến cho các NHTM của Việt Nam đang dần bị tụt hậu về công nghệ so với các ngân hàng trong khu vực. Đặc biệt là các công nghệ có liên quan đến phát triển dịch vụ quản lý chất lượng và quản trị rủi ro. Cho đến nay, ở Việt Nam mới chỉ có vài ba ngân hàng thử nghiệm số hoá, trên nền tảng một hệ sinh thái rất kém hấp dẫn khách hàng và nhà đầu tư. 

Thứ ba, xu thế hiện nay của thế giới không phải phát triển ngân hàng quy mô lớn mà chính là giảm thiểu quy mô ngân hàng để tránh những rủi ro tài chính liên thông toàn cầu. Vì vậy, Việt Nam nên chú trọng đến chất lượng hoạt động của các NHTM hơn là quy mô vừa đảm bảo được việc hỗ trợ các DNNVV về vốn, vừa giảm thiểu được các rủi ro tài chính lớn.

Muốn vậy, NHNN cần có những chiến lược cụ thể trên nền tảng phân loại nhóm ngân hàng theo quy mô và các chỉ tiêu an toàn phù hợp với từng nhóm ngân hàng để đảm bảo rằng bất luận là ngân hàng lớn hay nhỏ đều được giám sát một cách an toàn và hiệu quả. Đồng thời khuyến khích các ngân hàng hình thành các loại sản phẩm phù hợp với phân khúc thị trường để tồn tại và phát triển. 

Thứ tư, cần phải có sự quan tâm đặc biệt đối với 4 NHTM quốc doanh. Đây là những định chế tài chính có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước. Công nghiệp hóa đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn và tập trung theo định hướng của Chính phủ. Vai trò này khó có thể có ngân hàng nào đáp ứng được ngoài các ngân hàng quốc doanh.

Vì vậy, Chính phủ cần phải có biện pháp dứt khoát nhanh chóng tăng vốn tự có của các ngân hàng này đồng thời rà soát lại toàn bộ sản phẩm dịch vụ của các NHTM quốc doanh tập trung vào những mục tiêu lớn không dàn trải và nhỏ lẻ như hiện nay. Các NHTM quốc doanh cũng phải đi tiên phong trong việc đầu tư vào công nghệ, đặc biệt công nghệ thanh toán nhằm hỗ trợ cho các hoạt động tín dụng, tài trợ thương mại, hoạt động đầu tư theo định hướng của Chính phủ và dịch vụ thanh toán, tránh tình trạng các ngân hàng chen lấn nhau mở chi nhánh, phòng giao dịch với khối lượng đầu tư cơ sở vật chất và nhân lực khổng lồ mà hiệu quả rất thấp. 

Cuối cùng, lộ trình thực hiện các chuẩn mực của Basel II, Basel III cũng cần phải được xác lập hợp lý phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Dù về cơ bản các ngân hàng Việt Nam đều là ngân hàng nhỏ và vừa, nhưng vẫn phải ưu tiên trước hết là thực hiện các chuẩn mực về an toàn vốn và về minh bạch thông tin làm cơ sở cho việc giám sát từ xa và quản trị rủi ro hệ thống hiệu quả, giảm thiểu cú sốc không đáng có như đã từng xảy ra tại một số ngân hàng có liên quan đến một vài cá nhân và các vụ án.

Nhìn chung các mục tiêu Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đề ra cho đến năm 2025 có thể sẽ đạt được khá là đầy đủ. Chẳng hạn, như Việt Nam, các NHTM cơ bản có mức vốn tự có theo chuẩn mực của Basel II, trong đó ít nhất 12 - 15 NHTM áp dụng thành công Basel II phương pháp tiêu chuẩn trở lên; sẽ có một số NHTM lớn được xếp hạng về tổng tài sản trong khu vực và châu Á. Một số ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài. Tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của các NHTM lên khoảng 16 - 17%; Nợ xấu của toàn hệ thống các TCTD dưới 3%...

Nhưng chất lượng tài sản còn có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện chiến lược cũng phải lưu ý đến vai trò của NHTM trong việc tái cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng công nghiệp nông nghiệp và dịch vụ hiện đại chứ không chỉ đơn thuần là nhà cung cấp vốn theo nhu cầu tự phát vô hình của thị trường. 

Cho đến nay, Việt Nam thực sự chưa có một nền công nghiệp và dịch vụ hiện đại, chưa có một nền nông nghiệp sạch và an toàn để cải thiện chất lượng tăng trưởng và đảm bảo phát triển bền vững. Để làm được điều đó, tập trung nguồn lực tài chính cho một định hướng phát triển dài hạn có ý nghĩa quyết định về sự cạnh tranh và phát triển trong tương lai. 

Bên cạnh đó, còn nhiều vấn đề đặt ra như có tiếp tục công nghiệp hoá, nếu có thì thực hiện theo mô thức nào. Hoặc là đã nên đi vào dịch vụ hoá chưa và phát triển dịch vụ theo mô thức nào. Phát triển nông nghiệp sạch, an toàn phù hợp với những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường và biến đổi khí hậu của thị trường ngày càng khốc liệt, đòi hỏi có chiến lược phát triển chung và chiến lược phát triển ngân hàng phù hợp. Những gì đã đạt được cho đến nay chưa đủ khả năng trả lời câu hỏi nói trên.

Vì vậy, NHNN và Chính phủ nên điều chỉnh chiến lược cả về mục tiêu và phương tiện thực hiện với một tầm nhìn dài hạn về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và xu hướng của thị trường tài chính, kinh tế toàn cầu.

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Kim Anh: Quyết liệt triển khai một cách đầy đủ, toàn diện Chiến lược ngành Ngân hàng

Ngày 8/8/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 986/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Ngay sau khi Thủ tướng ban hành Quyết định về chiến lược, Thống đốc NHNN đã ban hành Chương trình hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược trong đó có giao nhiệm vụ hết sức cụ thể cho các đơn vị thuộc NHNN cũng như các TCTD.

Sau đó, NHNN tổ chức Hội nghị triển khai chương trình hành động của ngành Ngân hàng thực hiện chiến lược. Để triển khai một cách đầy đủ, toàn diện những Chiến lược ngành Ngân hàng, NHNN yêu cầu các vụ cục, các TCTD tiếp tục thực hiện tốt những biện pháp quan trọng sau:

Thứ nhất, yêu cầu các vụ cục, đơn vị thuộc NHNN, các TCTD tiếp tục quán triệt một cách đầy đủ, sâu sắc về nội dung của Chiến lược, đặc biệt là mục tiêu và nhiệm vụ giải pháp. Đồng thời quán triệt và triển khai một cách quyết liệt các công việc đã được đề cập trong chương trình hành động do Thống đốc ban hành để thực hiện chiến lược này.

Thứ hai, yêu cầu các đơn vị của NHNN, các TCTD cụ thể hoá những chỉ tiêu, giải pháp của mình trong chiến lược cũng như kế hoạch hoạt động của từng tổ chức phù hợp với mục tiêu, giải pháp Chiến lược đã đề ra và đảm bảo đúng lộ trình.

Thứ ba, chủ động, sáng tạo triển khai hiệu quả, đầy đủ các nhiệm vụ được giao tại Chiến lược. Cùng với đó phối hợp chặt chẽ, có trách nhiệm với đơn vị đầu mối, đối với những nhiệm vụ cần có sự phối hợp của nhiều đơn vị.

Thứ tư, các đơn vị cần thường xuyên tự đánh giá kết quả thực hiện, xác định khả năng đạt được nhiệm vụ được giao để có biện pháp điều chỉnh phù hợp, đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra. Thực hiện tốt chế độ báo cáo theo yêu cầu của Chương trình hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược để phục vụ tốt cho công tác giám sát.

TS. Lê Xuân Nghĩa

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.350 23.560 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.390 23.570 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.350 23.540 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.380 23.550 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.380 23.550 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.360 23.580 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.365 23.565 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.380 23.560 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.410 23.540 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.550
48.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.550
48.400
Vàng SJC 5c
47.550
48.420
Vàng nhẫn 9999
45.100
46.100
Vàng nữ trang 9999
44.700
45.800