Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội: Cần tính toán cho đúng trọng tâm

08:54 | 05/01/2022

Sáng 4/1, Quốc hội khóa XV đã khai mạc kỳ họp bất thường lần thứ nhất. Thảo luận ở tổ dự thảo Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ triển khai Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, nhiều đại biểu nhất trí với sự cần thiết thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ chương trình. Tuy nhiên, nhiều đại biểu còn tỏ ý băn khoăn với một số chính sách và đóng góp ý kiến để đảm bảo tính khả thi trong quá trình triển khai.

Làm rõ tính khả thi

Đại biểu Hoàng Văn Cường cho rằng, cần phải tính toán lại tác động của chính sách này đối với vấn đề tài khóa. Theo đó gói hỗ trợ dự kiến sẽ diễn ra trong 2 năm 2022-2023 và theo báo cáo của Chính phủ, dự báo mỗi năm sẽ tăng thêm bội chi khoảng 1 đến 1,2% GDP, như vậy trong 2 năm, bội chi tăng thêm khoảng 2 đến 2,5% GDP. Nhưng dư nợ công lại tăng đến 49% GDP, trong khi nợ công hiện tại chỉ khoảng 44-45% GDP…

Một vấn đề khác cũng khiến đại biểu Cường băn khoăn là dự báo có thể có một số năm, dòng tiền trả nợ sẽ vượt quá 25% tổng thu ngân sách. Ông cho rằng đây là vấn đề khó có thể chấp nhận bởi khi đưa vào chính sách, chúng ta phải dự báo được nó sẽ diễn ra như thế nào.

chuong trinh phuc hoi va phat trien kinh te xa hoi can tinh toan cho dung trong tam
Doanh nghiệp cần thêm các chính sách hỗ trợ để phục hồi

Trong khi theo đại biểu Vũ Thị Lưu Mai, khái niệm phục hồi là khi dịch bệnh đã dừng, đã được kiểm soát và trên cơ sở đó chúng ta phát triển kinh tế. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, việc dùng khái niệm phục hồi đã phù hợp hay chưa khi mà trọng tâm vẫn phải là phòng chống dịch, trên cơ sở đó tiếp tục duy trì và phát triển kinh tế.

Liên quan tới các gói phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là gói liên quan đến 5 nghìn tỷ đồng chống sạt lở bờ sông, bờ biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, bà Mai băn khoăn vì cách đây ít ngày, Quốc hội đã thông qua Kế hoạch đầu tư công trung hạn, trong đó mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu, chống sạt lở là một trong những ưu tiên trọng tâm. “Tôi cũng nghĩ rằng cần phải rà soát để đảm bảo mục tiêu phù hợp với đặc thù của gói phục hồi kinh tế. Không nên sử dụng nguồn này để cho những mục tiêu thường niên. Do vậy phải hết sức cân nhắc”, bà Mai đề nghị.

Một vấn đề khác là gói hỗ trợ thuê nhà mà Chính phủ dự kiến dùng 6,6 nghìn tỷ đồng từ tăng thu 2021 để thực hiện. Theo bà trong bối cảnh hiện nay, hỗ trợ người dân là hết sức cần thiết, tuy nhiên trong đề án không làm rõ con đường để 6,6 nghìn tỷ đồng đến với người dân như thế nào.

Hay vấn đề khác liên quan đến 38,4 tỷ đồng hạn mức phát hành trái phiếu để hỗ trợ giải quyết việc làm. Bà cho biết, cách đây ít ngày Quốc hội cũng thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có một nguồn lực không nhỏ để bố trí cho việc đào tạo nghề. Trong khi nguồn lực đó vẫn chưa giải ngân, chưa hoàn tất thủ tục, nay lại tiếp tục bố trí vốn sẽ không đảm bảo tính hợp lý.

Một loạt các vấn đề liên quan đến thanh toán cũng được nhiều đại biểu đặt ra khi cho rằng, quy định như dự thảo mới chỉ đề cập đến phương án phân bổ vốn, còn sau đó nghĩa vụ thanh toán như thế nào thì hoàn toàn thiếu vắng. Hay về phương án huy động, trong đề án chủ yếu mới đề cập đến phát hành trái phiếu và vay ODA, tuy nhiên phương án thanh toán nợ lại hoàn toàn chưa được đề cập. Hay mục tiêu chuyển đổi số. Các đại biểu cho rằng, nếu đối chiếu vào danh mục sẽ thấy những hạng mục của chuyển đổi số còn rất mơ hồ.

Phục hồi, phát triển nhanh sản xuất kinh doanh

Trước đó, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tờ trình Báo cáo thẩm tra dự thảo Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nêu rõ mục tiêu của chương trình là: Khôi phục nhanh chuỗi sản xuất, cung ứng, lao động, thúc đẩy các động lực tăng trưởng, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 6,5 - 7%/năm giai đoạn 2021-2025, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn trong trung và dài hạn.

Phục hồi, phát triển nhanh sản xuất kinh doanh, nhất là ngành, lĩnh vực quan trọng, tiết giảm chi phí, hỗ trợ dòng tiền, bảo đảm tính chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân trên cơ sở thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch.

Bảo đảm an sinh xã hội và đời sống của người dân, người lao động, nhất là người nghèo, người yếu thế, đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh, góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Chương trình xác định khung những vấn đề trọng tâm, cần tập trung giải quyết, bao gồm 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu với quy mô thực hiện dự kiến trong năm 2022-2023: Thứ nhất, mở cửa nền kinh tế gắn với đầu tư nâng cao năng lực y tế, phòng, chống dịch bệnh (60 nghìn tỷ đồng); Thứ hai, bảo đảm an sinh xã hội và hỗ trợ việc làm (53,15 nghìn tỷ đồng); Thứ ba, hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh (110 nghìn tỷ đồng); Thứ tư, phát triển kết cấu hạ tầng, khơi thông nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển (113,85 nghìn tỷ đồng); Thứ năm, cải cách thể chế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Ngoài ra, huy động từ các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước (NSNN).

Chính phủ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến về một số chính sách tài khóa, tiền tệ để hỗ trợ chương trình, cụ thể: Tăng bội chi NSNN để có nguồn thực hiện chương trình với tổng số tiền là 240 nghìn tỷ đồng trong 2 năm 2022-2023; trong đó năm 2022 khoảng 102,8 nghìn tỷ đồng, tăng tỷ lệ bội chi NSNN lên 5,08% GDP (tăng thêm khoảng 1,1% GDP so với dự toán NSNN năm 2022 đã được Quốc hội thông qua).

Cho phép nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu NSNN bình quân giai đoạn 2021-2025 có thể cao hơn 25%; tổng mức vay, trả nợ của NSTW có thể cao hơn Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia Quốc hội đã phê duyệt; kỳ hạn phát hành trái phiếu Chính phủ bình quân thấp hơn 9 năm.

Chấp thuận việc NSNN có thể vay các nguồn tài chính hợp pháp khác phù hợp và hoàn trả khi có nguồn trong kế hoạch tài chính-NSNN hàng năm hoặc các nguồn khác; Bộ Tài chính phát hành trực tiếp trái phiếu Chính phủ cho NHNN…

Giao Chính phủ xây dựng phương án phân bổ dự toán NSNN và phương án bổ sung kế hoạch đầu tư công năm 2022 cho các chương trình, dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 và các dự án thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế, xã hội đã đủ thủ tục theo quy định.

Tiếp tục miễn, giảm thuế khoảng 64 nghìn tỷ đồng trong năm 2022 và tính vào bội chi NSNN tương ứng (đã tính trong tổng số kiến nghị tăng bội chi 240 nghìn tỷ đồng tại mục 1 nêu trên).

Tăng hạn mức bảo lãnh Chính phủ đối với trái phiếu phát hành trong nước của Ngân hàng Chính sách Xã hội tối đa 38,4 nghìn tỷ đồng để thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cho vay ưu đãi trong 2 năm 2022-2023...

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.050 23.350 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.090 23.310 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.100 23.310 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.062 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.067 23.352 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.080 23.325 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.120 23.310 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.400
69.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.400
69.400
Vàng SJC 5c
68.400
69.420
Vàng nhẫn 9999
54.150
55.150
Vàng nữ trang 9999
53.950
54.750