banner-su-kien
Chỉ số kinh tế:
Ngày 6/10/2026, tỷ giá trung tâm của VND với USD là 25.645 đồng/USD, tỷ giá USD tại Cục Quản lý ngoại hối là 24.413/26.877 đồng/USD. Kinh tế tháng 9/2026 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, với các động lực sản xuất, tiêu dùng, xuất khẩu, đầu tư và việc làm tiếp tục được duy trì. Trong công nghiệp, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,0% so với tháng trước; chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,5%, trong khi chỉ số tồn kho tăng 4,3%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước; khách quốc tế đến Việt Nam đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3%. Xuất khẩu là điểm sáng với kim ngạch đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 1,27 tỷ USD. CPI tăng 0,62% so với tháng trước. Thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện chín tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua. Thị trường lao động duy trì tích cực khi lao động có việc làm chín tháng đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người; thu nhập bình quân đạt 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
0qc-ben-trai-120x600-160x600-180x600-pc
0qc-ben-phai-120x600-160x600-180x600-pc

CPI tháng 11 tăng 3,45% so với cùng kỳ năm trước

Lê Đỗ
Lê Đỗ  - 
Nhóm thuốc và dịch vụ y tế, học phí và giá gạo tăng là một trong những nguyên nhân khiến CPI tháng 11 tăng, theo số liệu vừa được Tổng cục Thống kê công bố.
aa
Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 11/2023 so với cùng kỳ năm trước
Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 11/2023 so với cùng kỳ năm trước

Thuốc và dịch vụ y tế chiếm hơn nửa mức tăng CPI tháng 11

CPI tháng 11/2023 tăng 0,25% so với tháng trước; tăng 3,46% so với tháng 12/2022; và tăng 3,45% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 11 tháng năm 2023, CPI tăng 3,22% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,27%.

Trước đó vào tháng 10, CPI tăng nhẹ 0,08% so với tháng trước; tăng 3,2% so với tháng 12/2022; và tăng 3,59% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2023, CPI tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,38%.

Theo Tổng cục Thống kê, một số địa phương thực hiện tăng giá dịch vụ y tế theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT, tăng học phí theo Nghị định số 81/2021/NĐ-CP và giá gạo trong nước tiếp tục tăng theo giá gạo xuất khẩu là những nguyên nhân chính làm cho CPI tháng 11 tăng.

Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 11/2023 so với tháng trước
Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 11/2023 so với tháng trước

Trong mức tăng 0,25% của CPI tháng 11/2023 so với tháng trước, có 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm, riêng nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình không biến động.

CPI các tháng 2023 so với cùng kỳ năm trước
CPI các tháng 2023 so với cùng kỳ năm trước

Cụ thể trong 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 2,9% (làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm), trong đó dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú tăng 2,27%; khám chữa bệnh nội trú tăng 5,13%. Nguyên nhân chủ yếu do một số địa phương triển khai áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Thông tư số 22/2023/TT-BYT ngày 17/11/2023 của Bộ Y tế quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp.

Cùng với đó, Nhóm giáo dục tăng 0,38%, trong đó giá dịch vụ giáo dục tăng 0,42% do một số địa phương thực hiện tăng học phí đối với các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và một số trường đại học, cao đẳng công lập, dân lập, tư thục cũng tăng học phí năm học 2023-2024 để bảo đảm thu chi thường xuyên. Đơn cử, chỉ số giá dịch vụ giáo dục tháng 11 tại Long An tăng 29,11%; Vĩnh Phúc tăng 11,21%.

Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,32%, tập trung chủ yếu ở mặt hàng đồ trang sức tăng 2,39%; dụng cụ cá nhân không dùng điện tăng 0,24%; dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,51%; dịch vụ về hỉ tăng 0,36% do nhu cầu tăng.

Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,2% do chi phí nhân công và nhu cầu mua sắm quần áo mùa đông tăng. Trong đó, giá vải các loại và mũ nón cùng tăng 0,15%; giày dép tăng 0,06%; quần áo may sẵn tăng 0,27%; dịch vụ may mặc tăng 0,21%; dịch vụ giày, dép tăng 0,25%.

Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,19% chủ yếu do tỷ giá đô la Mỹ tăng. Cụ thể, giá rượu bia tăng 0,16%; nước quả ép tăng 0,17%; nước giải khát có ga tăng 0,31% và thuốc hút tăng 0,19%.

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,1%, trong đó lương thực tăng 2,31%. Chỉ số nhóm gạo tăng 3,16% (gạo tẻ thường tăng 3,45%; gạo tẻ ngon tăng 2,45% và gạo nếp tăng 1,32%). Giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu do nhu cầu nhập khẩu tăng mạnh tại nhiều quốc gia trong khi nguồn cung gạo toàn cầu giảm do ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, giá gạo tăng tác động đến giá các mặt hàng lương thực khác như giá bún, bánh phở, bánh đa tăng 1,56% trong tháng 11 so với tháng trước; sắn tăng 1%; khoai tăng 0,66%; miến tăng 0,41%; bột ngô tăng 0,25%; mỳ sợi, mỳ, phở, cháo ăn liền tăng 0,22%; bột mỳ tăng 0,1%.

Cùng với đó, ăn uống ngoài gia đình tăng 0,2% do chỉ số giá ăn ngoài gia đình tăng 0,21%; uống ngoài gia đình tăng 0,27% và đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,08% so với tháng trước. Tuy nhiên trong Nhóm này, thực phẩm giảm 0,32% chủ yếu nhờ giá thịt lợn giảm 1,57% (làm CPI chung giảm 0,05 điểm phần trăm); giá rau tươi, khô và chế biến giảm 0,89%.

Riêng các Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch; Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng không đáng kể, lần lượt ở các mức 0,09% và 0,05%.

Lạm phát cơ bản dịu lại đôi chút

Trong tháng 11, có 2 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm. Trong đó, Nhóm giao thông giảm 0,01%, chủ yếu do giá xăng giảm 1,4%, giá dầu diezen giảm 7,14% do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước vào ngày 01/11/2023, 13/11/2023 và 23/11/2023; giá xe ô tô mới, xe máy và xe ô tô đã qua sử dụng giảm do các hãng xe áp dụng chương trình khuyến mại để kích cầu tiêu dùng. Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,11% do giá điện thoại thế hệ cũ giảm.

Lạm phát cơ bản tháng 11/2023 tăng 0,16% so với tháng trước, tăng 3,15% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên bình quân 11 tháng năm 2023, lạm phát cơ bản tăng 4,27% so với cùng kỳ năm 2022, thấp hơn mức bình quân 10 tháng năm 2023 (tăng 4,38%).

Việc lạm phát cơ bản cao hơn mức tăng CPI bình quân chung có nguyên nhân chủ yếu do bình quân giá xăng dầu trong nước 11 tháng năm 2023 giảm 12,12% so với cùng kỳ năm trước, giá gas giảm 7,5% là nhưng yếu tố kiềm chế tốc độ tăng của CPI chung (nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản).

Lê Đỗ

Tin liên quan

Tin khác

Thanh Hóa -

Thanh Hóa - 'thỏi nam châm' bán lẻ mới

Tăng trưởng kinh tế bứt phá cùng sự nâng chuẩn trong nhu cầu sống đang biến Thanh Hóa thành "thỏi nam châm" thu hút các thương hiệu bán lẻ toàn cầu, qua đó tái định hình diện mạo thị trường tiêu dùng tại cực tăng trưởng Bắc Trung Bộ.
Tiêu dùng xanh:

Tiêu dùng xanh: 'Điểm nghẽn' nằm ở thói quen

Xanh hóa đang dần chuyển từ một yêu cầu tuân thủ thành một phần của động lực thị trường. Hơn 81% doanh nghiệp xác định xu hướng tiêu dùng xanh và yêu cầu đối với bao bì bền vững là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng. Con số này cho thấy một sự thay đổi đáng chú ý là áp lực xanh không còn chỉ đến từ chính sách hay các tiêu chuẩn môi trường mà đang ngày càng xuất phát từ chính người mua.
Thị trường hàng hóa: Nguồn cung chịu sức ép, lúa mì và cà phê cùng tăng phiên thứ 3 liên tiếp

Thị trường hàng hóa: Nguồn cung chịu sức ép, lúa mì và cà phê cùng tăng phiên thứ 3 liên tiếp

Lực mua quay lại chiếm ưu thế trên thị trường hàng hóa nguyên liệu thế giới trong phiên giao dịch hôm qua (5/10). Chốt phiên, MXV-Index tăng 0,8% lên 2.926 điểm. Đáng chú ý, giá lúa mì CBOT tăng mạnh khi lo ngại gián đoạn nguồn cung tại khu vực Biển Đen gia tăng, trong khi nhu cầu nhập khẩu từ Trung Đông và châu Á tiếp tục tăng.
Giá vàng thế giới chịu sức ép, lực đỡ dài hạn vẫn hiện hữu

Giá vàng thế giới chịu sức ép, lực đỡ dài hạn vẫn hiện hữu

Tính đến 7h15 sáng nay (6/10), giá vàng giao ngay giảm 3,435 USD, giao dịch ở 4.137,090 USD/oz; trong khi giá vàng tương lai tháng 12 tăng 7,12 USD lên 4.163,92 USD/oz.
Thị trường hàng hóa: MXV-Index giảm 2,81%

Thị trường hàng hóa: MXV-Index giảm 2,81%

Sắc đỏ bao trùm thị trường hàng hóa thế giới trong tuần giao dịch 28/9-2/10, kéo MXV-Index giảm 2,81%, xuống 2.904 điểm. Nhóm kim loại dẫn đầu đà suy yếu khi cả kim loại quý và kim loại cơ bản đều chịu áp lực bán mạnh. Trên thị trường nông sản, giá ngô cũng giảm mạnh sau khi Bộ Nông nghiệp Mỹ công bố số liệu tồn kho cuối niên vụ cao hơn đáng kể so với dự báo.
Giá vàng thế giới khởi sắc, triển vọng tuần mới vẫn thận trọng

Giá vàng thế giới khởi sắc, triển vọng tuần mới vẫn thận trọng

Tính đến 7h45 sáng nay (5/10), giá vàng giao ngay tăng 12,430 USD, giao dịch ở 4.152,950 USD/oz; trong khi giá vàng tương lai tháng 12 tăng 18,54 USD lên 4.180,84 USD/oz.
Giá vàng tuần tới: Phục hồi hay tiếp tục chịu sức ép?

Giá vàng tuần tới: Phục hồi hay tiếp tục chịu sức ép?

Khảo sát vàng hàng tuần mới nhất của Kitco News cho thấy các chuyên gia đang tiến sát tới trạng thái đa số dự báo giảm giá, trong khi các nhà đầu tư cá nhân đã không còn duy trì quan điểm nghiêng về tăng giá như kể từ cuối tháng 7.
Thương mại điện tử đang sàng lọc người bán

Thương mại điện tử đang sàng lọc người bán

Thị trường thương mại điện tử Việt Nam tiếp tục tăng trưởng mạnh trong những tháng đầu năm 2026. Nhưng một nghịch lý đáng chú ý là quy mô thị trường tăng nhưng số lượng nhà bán hàng có doanh thu lại giảm mạnh.
Thị trường hàng hóa: MXV-Index giằng co trên vùng 2.900 điểm

Thị trường hàng hóa: MXV-Index giằng co trên vùng 2.900 điểm

Thị trường hàng hóa nguyên liệu thế giới tiếp tục biến động trong phiên hôm qua (1/10). Nhóm năng lượng là điểm sáng khi giá hai mặt hàng dầu thô tăng mạnh. Lực mua chiếm ưu thế, kéo MXV-Index tăng nhẹ lên 2.926 điểm.
Thương hiệu Việt ‘loay hoay’ chống hàng nhái

Thương hiệu Việt ‘loay hoay’ chống hàng nhái

Việc chống hàng giả, hàng nhái khiến doanh nghiệp tăng chi phí bảo vệ thương hiệu và đối mặt nguy cơ suy giảm uy tín. Những vụ việc gần đây đặt ra yêu cầu minh bạch nguồn gốc đi cùng xử lý vi phạm.