Điểm lại thông tin kinh tế ngày 2/7

07:30 | 03/07/2019

Ngân hàng Nhà nước hút ròng 2.000 tỷ đồng. VN-Index giảm 3,63 điểm (-0,38%) xuống 961,98 điểm; HNX-Index giảm 0,63 điểm (-0,61%) xuống 103,46 điểm; UPCOM-Index tiếp tục giảm 0,21 điểm (-0,38%) xuống 54,96 điểm. Thanh khoản thị trường ở mức thấp. Khối ngoại tiếp tục bán ròng gần 80 tỷ đồng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 1/7
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 24-28/6

Tin trong nước

Thị trường ngoại tệ phiên 2/7, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.051 VND/USD, giảm 3 đồng so với phiên đầu tuần. Tỷ giá bán được niêm yết ở mức 23.693 VND/USD.

Trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá chốt phiên ở mức 23.235 VND/USD, tiếp tục giảm mạnh 30 đồng so với phiên 1/7. Tỷ giá tự do giảm tiếp 10 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, giao dịch tại 23.240 - 23.270 VND/USD.

Thị trường tiền tệ liên ngân hàng ngày 2/7, lãi suất chào bình quân liên ngân hàng VND tiếp tục giảm mạnh 0,11 - 0,15 điểm phần trăm ở tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống so với phiên đầu tuần; giao dịch tại: qua đêm 3,67%; 1 tuần 3,83%; 2 tuần 3,89% và 1 tháng 4,01%.

Lãi suất chào bình quân liên ngân hàng USD tăng 0,01 điểm phần trăm ở kỳ hạn qua đêm trong khi giảm 0,02 điểm phần trăm ở các kỳ hạn còn lại; giao dịch tại: qua đêm 2,51%; 1 tuần 2,57%; 2 tuần 2,66%, 1 tháng 2,78%.

Lợi suất trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp giảm ở các kỳ hạn 3 năm, 5 năm và 10 năm trong khi tăng ở các kỳ hạn 7 năm và 15 năm, giao dịch tại: 3 năm 3,58%; 5 năm 3,86%; 7 năm 4,18%; 10 năm 4,66%; 15 năm 5,01%.

Nghiệp vụ thị trường mở phiên hôm qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giảm chào thầu tín phiếu xuống mức 5.000 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 3,0%. Các tổ chức tín dụng hấp thụ được toàn bộ khối lượng này. Trong ngày có 3.000 tỷ đồng tín phiếu đáo hạn.

Như vậy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 2.000 tỷ đồng từ thị trường, đưa khối lượng tín phiếu lưu hành tăng lên ở mức 34.999 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước chào thầu 1.000 tỷ đồng trên kênh cầm cố, kỳ hạn 7 ngày, lãi suất 4,75%, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu.

Thị trường chứng khoán hôm qua chứng kiến sắc đỏ ở nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn áp đảo, khiến các chỉ số thị trường tiếp tục điều chỉnh. Kết thúc phiên giao dịch, VN-Index giảm 3,63 điểm (-0,38%) xuống 961,98 điểm; HNX-Index giảm 0,63 điểm (-0,61%) xuống 103,46 điểm; UPCOM-Index tiếp tục giảm 0,21 điểm (-0,38%) xuống 54,96 điểm.

Thanh khoản thị trường ở mức thấp với tổng giá trị giao dịch đạt gần 3.900 tỷ đồng. Khối ngoại tiếp tục bán ròng gần 80 tỷ đồng trên cả 3 sàn trong phiên hôm qua.

VN-Index trong vòng 3 tháng gần đây - Nguồn: VNDIRECT

Theo Liên Bộ Công Thương - Tài chính, bắt đầu từ 2/7, giá xăng dầu được điều chỉnh tăng đồng loạt. Cụ thể, xăng RON95 tăng 383 đồng/lít; Xăng E5RON92 tăng 420 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S tăng 292 đồng/lít; Dầu hỏa tăng 326 đồng/lít; Dầu mazut 180CST 3.5S tăng 105 đồng/kg.

Sau điều chỉnh, giá bán các mặt hàng xăng dầu tiêu dùng phổ biến trên thị trường không cao hơn mức giá như sau: Xăng E5RON92: 19.653 đồng/lít; Xăng RON95: 20.517 đồng/lít; Dầu diesel 16.949 đồng/lít; Dầu hỏa 15.937 đồng/lít; Dầu mazut 15.220 đồng/kg.

Tin quốc tế

Chỉ số PMI lĩnh vực xây dựng Anh chỉ ở mức 43,1 điểm trong tháng vừa qua, giảm mạnh từ mức 48,6 điểm của tháng 5 và trái với kỳ vọng tăng lên mức 49,4 điểm. PMI dịch vụ tháng 6 đánh dấu mức thấp nhất trong hơn 10 năm, kể từ tháng 4/2009.

Tại cuộc họp chính sách đầu tháng 7, NHTW Úc RBA quyết định hạ lãi suất chính sách từ mức 1,25% xuống mức 1,0%. Đây là lần hạ lãi suất thứ hai liên tiếp của NHTW này trong vòng chưa đầy một tháng. Mức lãi suất nới lỏng này được kỳ vọng giúp tạo ra việc làm đồng thời hỗ trợ lạm phát đạt ngưỡng mục tiêu, qua đó đưa kinh tế Úc phát triển bền vững hơn.

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF cho biết nước này sẽ bỏ hạn chế để các nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm quyền sở hữu lớn tại các công ty chứng khoán Trung Quốc vào năm 2020, sớm hơn 1 năm so với kế hoạch ban đầu.

Giá USD ngày 2/7 ở mức 0,88EUR (-0,14% so với phiên ngày hôm trước); giá EUR ở mức 1,13USD (+0,14% so với phiên ngày hôm trước).

PL

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế MSB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.350 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.170 23.350 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.160 23.350 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.175 23.345 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.164 23..374 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.160 23.360 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.160 23.330 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.200 23.330 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.420
48.790
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.420
48.770
Vàng SJC 5c
48.420
48.790
Vàng nhẫn 9999
47.550
48.200
Vàng nữ trang 9999
47.200
48.000