Điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo: Đã “cởi” nay lại muốn “trói”

07:30 | 28/12/2021

VCCI cho rằng, các nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo có một số vấn đề cần cẩn trọng xem xét lại để đảm bảo các đề xuất này đáp ứng được các mục tiêu của quản lý nhà nước vừa đảm bảo môi trường kinh doanh thuận lợi.

Góp ý về các nội dung đề xuất sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo (sau đây gọi tắt là Dự thảo) Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhìn nhận các đề xuất sửa đổi, bổ sung đều xuất phát từ những điểm hạn chế, vướng mắc trong thực tế triển khai, hướng tiếp cận về sửa đổi, bổ sung chính sách như vậy là phù hợp. Tuy nhiên, dự thảo cũng có một số vấn đề cần cẩn trọng xem xét lại để đảm bảo các đề xuất này đáp ứng được các mục tiêu của quản lý nhà nước vừa đảm bảo môi trường kinh doanh thuận lợi.

Như về điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, Dự thảo đề xuất sửa đổi theo hướng “quy định về sức chứa tối thiểu của kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và công suất tối thiểu của cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo; có thể cân nhắc việc quy định như Nghị định 109/2010/NĐ-CP để tận dụng nguồn lực xã hội, cơ sở vật chất đã được xây dựng khi thực thi Nghị định số 109/2010/NĐ-CP, tránh phát sinh thêm chi phí cho thương nhân, gây lãng phí nguồn lực xã hội”. Song, VCCI cho rằng cần đánh giá thận trọng lại quy định này.

da coi nay lai muon troi
Các quy định về kinh doanh xuất khẩu gạo đang được điều chỉnh cho phù hợp hơn

Bởi điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo tại Nghị định 107 được đánh giá là một bước tiến trong cải cách điều kiện kinh doanh, tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho các thương nhân trong hoạt động xuất khẩu gạo - loại hàng hóa mà Việt Nam có thế mạnh. “Việc đề xuất sửa đổi quay trở lại với điều kiện kinh doanh về diện tích tối thiểu của kho chứa thóc, công suất tối thiểu của cơ sở xay, xát, chế biến thóc gạo - vốn là những điều kiện Nghị định 107 đã bãi bỏ, theo chúng tôi là một thay đổi rất lớn, đưa ra thông điệp và tín hiệu về sự thay đổi của môi trường kinh doanh Việt Nam và ngành công thương theo hướng không tích cực, rất cần được cân nhắc thận trọng” VCCI khuyến nghị.

Lý do Dự thảo đưa ra cho quy định này là đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm. Song, theo quy định tại Nghị định 107 thì thương nhân xuất khẩu gạo phải có “kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kho chứa thóc, gạo do cơ quan có thẩm quyền ban hành”; “cơ sở xay, xát hoặc cơ sở chế biến thóc, gạo phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về kho chứa và cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo do cơ quan có thẩm quyền ban hành” (Điều 4). Như vậy, cơ quan quản lý Nhà nước đã kiểm soát vấn đề về chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm của gạo xuất khẩu thông qua yêu cầu về cơ sở vật chất của thương nhân xuất khẩu gạo phải đáp ứng theo pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Dự thảo cũng chưa đưa ra thông tin để thuyết phục rằng, cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo có quy mô tối thiểu 5.000 (năm nghìn) tấn thóc; công suất tối thiểu 10 tấn thóc/giờ thì sẽ đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm hơn là các cơ sở có quy mô, công suất bé hơn, trong khi tất cả các cơ sở này đều đáp ứng về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Trong nội dung về những hạn chế, bất cập trong thực thi Nghị định 107, Dự thảo có nêu, việc không quy định về sức chứa kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và công suất tối thiểu của cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo đã “dẫn đến không có mức chuẩn tối thiểu đối với cơ sở của thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo; dẫn đến sự không công bằng trong đầu tư tham gia thị trường của các thương nhân, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh”. Đây có thể là căn cứ để Dự thảo đề xuất quy định quy mô, công suất tối thiểu cơ sở vật chất của thương nhân xuất khẩu. Tuy nhiên, việc Dự thảo đưa đề xuất quy định về quy mô, công suất tối thiểu đối với cơ sở của thương nhân xuất khẩu gạo sẽ không đảm bảo công bằng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khi muốn tham gia vào thị trường này. Nhà nước không nên sử dụng công cụ điều kiện kinh doanh để yêu cầu tất cả thương nhân kinh doanh trên thị trường đều phải có quy mô lớn trong khi chưa chứng minh một cách thuyết phục mục tiêu chính sách này là phù hợp. Thị trường cạnh tranh sẽ là “bộ lọc” tốt nhất cho các doanh nghiệp có năng lực.

“Hơn nữa, Dự thảo cũng chưa cung cấp các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp có cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo có quy mô tối thiểu bé hơn 5.000 (năm nghìn) tấn thóc; công suất tối thiểu bé hơn 10 tấn thóc/giờ như thế nào? Và liệu công cụ quản lý bằng pháp luật cạnh tranh có giải quyết được tình trạng này không?”, VCCI phân tích.

Trong khi đó, việc quay trở lại với điều kiện về quy mô vốn đã được bãi bỏ tại Nghị định 107 sẽ dẫn tới hiện tượng rất nhiều doanh nghiệp bị loại bỏ khỏi thị trường, tạo ra rào cản cản trở doanh nghiệp quy mô vừa và bé gia nhập thị trường sẽ tác động lớn đến thị trường cạnh tranh trong ngành này. Dự thảo chưa đánh giá tác động đối với các chủ thể này trong khi đây là nội dung rất quan trọng để xem xét đến tính phù hợp của đề xuất quy định điều kiện kinh doanh theo hướng khắt khe hơn.

VCCI cũng cho rằng, Dự thảo đề xuất sửa đổi thời hạn Giấy chứng nhận phù hợp với thời hạn của hợp đồng thuê kho chứa, cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo của thương nhận tại thời điểm nộp hồ sơ cấp Giấy chứng nhận tạo ra sự bất bình đẳng giữa các thương nhân được cấp cũng như khó quản lý, nên bỏ.

Vì hiện để đáp ứng điều kiện có kho chứa, cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo, thương nhân có thể thuê hoặc có quyền sở hữu các cơ sở vật chất này. Như vậy, nếu theo đề xuất tại Dự thảo thì đối với những thương nhân thuê thì Giấy chứng nhận sẽ có thời hạn, còn những thương nhân có quyền sở hữu các cơ sở vật chất thì Giấy chứng nhận sẽ không có thời hạn hay là thời hạn sẽ xác định như nào?

Cùng đáp ứng điều kiện kinh doanh và được cấp giấy phép nhưng thời hạn của giấy phép của các thương nhân lại khác nhau tạo ra sự bất bình đẳng giữa các chủ thể này, ít nhất ở việc các thương nhân có Giấy chứng nhận có thời hạn sẽ phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính hơn (mỗi khi thời hạn giấy chứng nhận hết, họ phải thực hiện thủ tục cấp lại, gia hạn) và đứng trước nguy cơ không được cấp phép, bị loại ra khỏi thị trường nếu không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận.

Hơn thế, hợp đồng thuê kho chứa, cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo là giao dịch dân sự. Thời hạn của hợp đồng là do hai bên thỏa thuận và có thể bị điều chỉnh hoặc thay đổi bất kỳ lúc nào. Như vậy, thời hạn trong Giấy chứng nhận sẽ phải thay đổi liên tục. Điều này vừa tạo ra nhiều thủ tục hành chính và khó quản lý từ phía cơ quan nhà nước khi phải đối soát giữa thời hạn hợp đồng và thời hạn của Giấy chứng nhận.

VCCI cũng đề nghị xem xét lại chế tài Dự thảo đang đề xuất là tạm dừng thực hiện thủ tục hải quan đối với các lô gạo xuất khẩu nhập khẩu của thương nhân thuộc trường hợp thực hiện không đúng, không đầy đủ chế độ báo cáo theo quy định. Theo VCCI chế tài này là quá nặng. Hơn thế, trong các quy định liên quan đến xử lý vi phạm hành chính, các hành vi vi phạm nghĩa vụ báo cáo chế tài xử phạt thường không áp dụng biện pháp dừng hoạt động kinh doanh. Dừng thực hiện thủ tục hải quan đối với lô gạo xuất khẩu, nhập khẩu được xem là dừng hoạt động kinh doanh xuất khẩu gạo của thương nhân.

Hoa Hạ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.975 23.285 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.005 23.285 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.980 23.280 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.965 23.260 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.030 23.240 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.010 23.230 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.005 23.405 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.009 23.295 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.010 23.260 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.040 23.230 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.250
69.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.250
69.250
Vàng SJC 5c
68.250
69.270
Vàng nhẫn 9999
53.800
54.800
Vàng nữ trang 9999
53.600
54.400