Dòng vốn FDI tăng mạnh và bài toán nâng chất tăng trưởng
| Nghị quyết 10 chuyển dịch tư duy thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới Dòng vốn FDI thế hệ mới tập trung vào dự án giá trị cao Liên kết trong FDI kiến tạo năng lực quốc gia |
![]() |
| Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tám tháng giai đoạn 2022-2026 (tỷ USD). Nguồn: Cục Thống kê, Bộ Tài chính |
Quy mô dòng vốn mới đang lớn hơn
Tám tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% và là mức cao nhất của cùng kỳ 5 năm qua. Trong khi đó, số dự án cấp phép mới tăng 9,4% nhưng số vốn đăng ký tăng tới 96,8%, cho thấy quy mô vốn bình quân của các dự án mới đang lớn lên đáng kể.
Dòng vốn cũng tiếp tục tập trung mạnh vào sản xuất. Công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút 12,15 tỷ USD vốn đăng ký cấp mới, chiếm 55,9%; nếu tính cả vốn cấp mới và tăng thêm, ngành này đạt 20,18 tỷ USD, chiếm 59,5%. Cùng lúc, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt kim ngạch xuất khẩu 300,37 tỷ USD trong tám tháng, chiếm 80,1% tổng xuất khẩu cả nước.
Những con số trên cho thấy FDI vẫn giữ vai trò lớn trong mở rộng năng lực sản xuất và xuất khẩu. Nhưng quy mô vốn hay tỷ trọng xuất khẩu mới phản ánh một phần chất lượng dòng vốn. Một dự án lớn không đương nhiên có hàm lượng công nghệ cao; một nhà máy tạo kim ngạch xuất khẩu lớn cũng chưa chắc tạo liên kết sâu với doanh nghiệp trong nước. Bởi vậy, cùng với những số liệu tích cực được thể hiện ra bên ngoài, câu hỏi sâu hơn bên trong là mỗi dự án FDI thu hút thêm mang lại những gì: công nghệ nào được hấp thụ, năng lực R&D nào được hình thành, bao nhiêu lao động được nâng kỹ năng và bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam đủ sức bước vào chuỗi cung ứng.
Nghị quyết số 10-NQ/TW đang cho thấy rõ định hướng này khi đặt yêu cầu chuyển mạnh từ chú trọng quy mô, số lượng sang chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng; ưu tiên dự án có công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tại tọa đàm Việt Nam - EU mới đây, Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn khẳng định, khi Nghị quyết 10 được triển khai bằng hành động cụ thể, hợp tác Việt Nam - EU sẽ không chỉ tăng về quy mô mà còn nâng lên một tầm cao mới về chất lượng, công nghệ, tính bền vững và giá trị đóng góp cho người dân và nền kinh tế.
Khoảng trống nằm ở phần giá trị được giữ lại
Theo các chuyên gia, giai đoạn tiếp theo của chiến lược FDI cần dịch chuyển từ thu hút vốn sang thu hút năng lực. Thước đo thành công cần gắn nhiều hơn với công nghệ, nguồn nhân lực, R&D và khả năng giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Dưới góc nhìn đó, độ sâu liên kết giữa khu vực FDI với kinh tế trong nước là một điểm nghẽn. Nếu nhà máy FDI nhập phần lớn nguyên vật liệu, linh kiện, công nghệ và dịch vụ từ bên ngoài, trong khi doanh nghiệp nội địa chỉ tham gia công đoạn giản đơn, phần giá trị giữ lại sẽ hạn chế.
Ông Surajit Rakshit, Giám đốc toàn quốc Khối Giải pháp Thương mại Toàn cầu, HSBC Việt Nam, cho rằng tư duy lựa chọn địa điểm sản xuất đang thay đổi. Nếu trước đây bài toán chủ yếu xoay quanh lao động, nhà xưởng và chi phí thấp, thì nay các tập đoàn đa quốc gia nhìn vào tổng chi phí và rủi ro, gồm độ tin cậy logistics, chất lượng nhà cung ứng, tốc độ đưa sản phẩm ra thị trường, tuân thủ và khả năng duy trì vận hành khi có gián đoạn.
Theo chuyên gia này, công thức cạnh tranh đang chuyển từ “chi phí thấp” sang “giá trị cao với chi phí cạnh tranh” và hiện nay, Việt Nam không được lựa chọn chỉ vì yếu tố giá rẻ. Trong lĩnh vực dệt may, các doanh nghiệp trong nước đã chứng minh được năng lực sản xuất ổn định và hiệu quả. Trong ngành điện tử, Việt Nam cũng đang dần đi sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao, dần rời xa khâu lắp ráp chi phí thấp để hướng tới năng lực công nghiệp tinh vi và tích hợp cao hơn. Các hình thái thương mại gần đây cho thấy vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng công nghệ tiên tiến đang lớn dần.
Sự dịch chuyển đang diễn ra nhưng để tận dụng được, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa không thể dừng ở việc “có tên trong danh sách nhà cung cấp”. Muốn tiến lên nhà cung ứng cấp 2, cấp 1, doanh nghiệp Việt Nam phải nâng năng lực công nghệ, quản trị, kiểm soát chất lượng, giao hàng, minh bạch dữ liệu và đáp ứng các tiêu chuẩn cao hơn về lao động, truy xuất nguồn gốc, ESG…
Từ kinh nghiệm thực tế, ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam cho rằng liên kết chỉ bền vững khi các bên cùng tạo ra giá trị. Ông dẫn trường hợp một doanh nghiệp vận tải nội địa khi bắt đầu hợp tác với Nestlé chỉ có một đầu xe. Sau quá trình được chia sẻ phương pháp quản trị, kiểm soát chất lượng, yêu cầu môi trường và kỹ năng kỹ thuật, đơn vị này đã phát triển lên đội xe 50 chiếc và mở rộng hợp tác với 5 doanh nghiệp lớn khác. Ví dụ này cho thấy giá trị của FDI còn nằm ở khả năng giúp doanh nghiệp Việt Nam lớn lên cùng chuỗi cung ứng.
Ông Julien Guerrier, Đại sứ - Trưởng Phái đoàn EU tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam đang đặt ra những mục tiêu tham vọng về năng suất, năng lực công nghệ, mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và chuyển đổi sang nền kinh tế công nghiệp xanh, hiện đại, dựa trên nền tảng số. Trong khi đó, EU tiếp tục là một nguồn đầu tư, công nghệ, chuyên môn và tài chính bền vững quan trọng. Do đó, theo ông Julien Guerrier, nếu hai bên có thể kết hợp những thế mạnh bổ trợ lẫn nhau này với một môi trường đầu tư minh bạch, có tính dự báo cao, việc triển khai chính sách hiệu quả và đối thoại cởi mở, mang tính xây dựng với cộng đồng doanh nghiệp, sẽ có thể đưa quan hệ đối tác đầu tư lên một tầm cao mới.
Từ ưu đãi vốn sang cạnh tranh bằng hệ sinh thái
Những yêu cầu này cho thấy bài toán chất lượng FDI thực chất là bài toán chuyển nguồn lực từ bên ngoài thành năng lực bên trong. Khi thước đo FDI thay đổi, cách cạnh tranh để thu hút dòng vốn cũng cần thay đổi tương ứng.
“Nghị quyết 10 xác định các lĩnh vực ưu tiên thu hút FDI bao gồm điện tử, bán dẫn, AI và công nghệ cao. Định hướng này là một lợi thế hữu ích và bước tiếp theo cần đảm bảo các chính sách được chuyển hóa thành giải pháp rõ ràng, ổn định và khả thi trong thực tiễn. Đây thường là yếu tố mang tính quyết định khi các nhà đầu tư công nghệ lớn cân nhắc lựa chọn giữa các quốc gia trong khu vực”, ông Surajit Rakshit nhấn mạnh.
Khi Việt Nam đã chứng minh được năng lực sản xuất quy mô lớn, xây dựng hệ sinh thái chuỗi cung ứng đủ chiều sâu là bài kiểm tra tiếp theo. Áp lực về vốn lưu động, tuân thủ và giao hàng thường tập trung ở các nhà cung ứng cấp 2, cấp 3 - nhóm có nguồn vốn mỏng và khả năng tiếp cận tín dụng hạn chế hơn. Mở rộng tài trợ chuỗi cung ứng xuống các tầng doanh nghiệp này có thể vừa thúc đẩy nội địa hóa, vừa giúp doanh nghiệp nhỏ đầu tư cải tiến quy trình, chất lượng và năng lực sản xuất.
Song song với đó là hạ tầng dữ liệu thương mại. Theo các chuyên gia, tài trợ chuỗi cung ứng nên gắn với những mốc giao dịch có thể xác thực như đơn đặt hàng, vận chuyển, hóa đơn điện tử, trạng thái tranh chấp, thay vì chỉ dựa vào báo cáo tài chính. Khi dữ liệu đủ tin cậy, dòng vốn có thể đi nhanh và chính xác hơn tới những mắt xích cần vốn.
Chất lượng thể chế cũng trở thành lợi thế cạnh tranh. Ông Torben Minko, Phó Chủ tịch EuroCham, cho rằng việc cụ thể hóa Nghị quyết 10 thành hành động thiết thực sẽ tạo điều kiện thu hút đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất công nghệ cao, tiên tiến của châu Âu. EuroCham cam kết tiếp tục đóng vai trò cầu nối lâu dài giữa các nhà đầu tư châu Âu và Việt Nam, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Việt Nam.
Cùng với đó, chuyển đổi xanh và số hóa ngày càng đi trực tiếp vào tiêu chuẩn lựa chọn nhà cung ứng. Chuyên gia Surajit Rakshit cho rằng, các giải pháp vốn lưu động có thể gắn với KPI chuyển đổi có thể kiểm chứng như giảm phát thải, sử dụng năng lượng tái tạo hay tái sử dụng nước… Một thay đổi quan trọng khác là chính sách ưu đãi cần gắn nhiều hơn với kết quả thực tế để qua đó ưu đãi trở thành công cụ khuyến khích các dự án chất lượng.
Việt Nam vẫn cần dòng vốn lớn để mở rộng năng lực sản xuất, nhưng hiệu quả phát triển sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào lượng công nghệ, tri thức, kỹ năng và mạng lưới doanh nghiệp mà mỗi dự án tạo ra. Kỷ lục FDI tám tháng năm 2026 vì vậy là nền tảng thuận lợi, song chưa phải đích đến. Bước khó hơn là biến sức hấp dẫn đối với dòng vốn quốc tế thành một hệ sinh thái nơi nhà đầu tư tiếp tục mở rộng, trong khi doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất đó.
Tin khác
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 23/9
Gần một thập kỷ vắng doanh nghiệp FDI mới lên sàn: Nút thắt nằm ở đâu?
Sau nâng hạng, chứng khoán Việt cần gì để giữ dòng vốn quốc tế?
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 22/9
Kế hoạch thực hiện Nghị quyết về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Từ 0,7% lên 5% GDP: Ngành quỹ lấy gì để bứt tốc?
Điểm lại thông tin kinh tế ngày 21/9
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 14-18/9
Gia Lai nghiên cứu cao tốc Pleiku - Lệ Thanh hơn 17.000 tỷ đồng



