Đồng vốn nghĩa tình trên đất Tây Nguyên

10:12 | 09/01/2020

Kon Tum là tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên, có biên giới giáp với 2 nước bạn Lào và Campuchia. Toàn tỉnh hiện có hơn 540.000 người, với 28 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 53%. Trong những năm qua, công tác giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội luôn được cấp ủy, chính quyền các cấp của tỉnh quan tâm, đặc biệt là từ khi thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng  đối với tín dụng chính sách xã hội”.

Phát huy hiệu quả tín dụng chính sách
Tín dụng chính sách trên quê hương Tân Trào
Những chuyện mừng từ đồng vốn chính sách

Bắt đầu từ sự quyết tâm, đồng lòng

Theo ông Lê Danh Thứ, Bí thư Chi bộ, Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) tỉnh Kon Tum, từ khi thực hiện Chỉ thị 40 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, các cấp ủy, chính quyền trong tỉnh đã nhận thức rõ hơn về vai trò, vị trí của hoạt động tín dụng chính sách trong thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững; giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới. Tỉnh ủy đã ban hành các văn bản chỉ đạo, xây dựng kế hoạch thực hiện. Qua đó, đã nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền các cấp, tạo được sự thống nhất trong nhận thức và hành động, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong triển khai tín dụng chính sách xã hội.

Đã có 135.650 lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn từ NHCSXH

Ông Nguyễn Văn Hòa, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum cho biết, tỉnh bố trí 100% Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tham gia Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH cấp huyện; hiện có 102 điểm giao dịch xã, 1.677 tổ tiết kiệm và vay vốn thường xuyên được hỗ trợ phương tiện, trang thiết bị, trụ sở làm việc; chỉ đạo thường xuyên bám sát các tiêu chí hộ nghèo, hộ cận nghèo và hướng dẫn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chủ động rà soát, bổ sung kịp thời vào danh sách những hộ thuộc diện nghèo, cận nghèo của địa phương, đảm bảo các hộ nghèo, hộ cận nghèo đủ điều kiện và có nhu cầu được vay vốn từ NHCSXH.

Hằng năm, bên cạnh việc tranh thủ tối đa nguồn vốn các chương trình tín dụng chính sách từ Trung ương chuyển về, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo bố trí ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện để bổ sung nguồn vốn cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn; nguồn vốn cho vay được tăng lên hàng năm. Tính đến cuối năm 2019, tổng nguồn vốn đạt trên 2.538 tỷ đồng, tăng 1.093 tỷ đồng so với trước khi có Chỉ thị số 40-CT/TW. Trong đó, nguồn vốn ủy thác địa phương đã tăng thêm 58,404 tỷ đồng, tăng 691%, nâng tổng nguồn vốn ủy thác của địa phương đến nay đạt 66,848 tỷ đồng. Nguồn vốn ngân sách địa phương đã giúp cho 820 lượt hộ nghèo được vay vốn, 42 hộ tại vùng khó khăn vay vốn để sản xuất, kinh doanh, 24 lượt lao động vay vốn đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, tạo việc làm mới cho 345 lao động. Vốn tín dụng chính sách còn tham gia các Dự án trồng cao su tiểu điền cho hộ nghèo là người đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện Đắk Hà, Sa Thầy và thành phố Kon Tum; mô hình trồng cây cà phê, rau, hoa, quả xứ lạnh tại huyện Kon Plông, Tu Mơ Rông, Đăk Glei; mô hình nhóm hộ chăn nuôi bò sinh sản tại xã Văn Lem, huyện Đăk Tô; mô hình nhóm hộ trồng sâm dây tại huyện Tu Mơ Rông; dự án phát triển đàn trâu, bò để hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại huyện Kon Rẫy, Sa Thầy, Đăk Hà.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã và đang triển khai thực hiện 16 chương trình tín dụng chính sách, tăng 6 chương trình so với trước khi có Chỉ thị số 40-CT/TW, với tổng dư nợ đạt trên 2.530 tỷ đồng, tăng 1.089 tỷ đồng so với trước khi có Chỉ thị, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng bình quân hàng năm đạt 11,38%; với trên 64 ngàn hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác còn dư nợ, tăng 4,205 hộ so với trước khi có Chỉ thị. Cùng với việc tăng trưởng tín dụng, chất lượng tín dụng chính sách cũng không ngừng được nâng lên. Theo đó, tỷ lệ nợ quá hạn đã giảm từ 0,65% xuống còn 0,28% hiện nay.

Giám đốc Lê Danh Thứ cho biết thêm, từ khi có Chỉ thị số 40-CT/TW đến nay, đã có 135.650 lượt hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn từ NHCSXH. Vốn tín dụng chính sách đã giúp cho hơn 23 ngàn hộ thoát nghèo vươn lên làm giàu, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm từ 26,11% xuống còn 17, 29% theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020; 18/86 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Việc vay vốn tín dụng chính sách với thủ tục đơn giản, không phải thế chấp, lãi suất ưu đãi, nhận tiền vay, trả nợ trả lãi tại điểm giao dịch xã đã giúp người dân dễ dàng thuận lợi tiếp cận nguồn vốn các chương trình tín dụng chính sách; hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, tín dụng đen, giảm chi phí cho các đối tượng vay vốn, góp phần làm chuyển biến nhận thức của hộ nghèo, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, giúp họ thay đổi tập quán sản xuất, xóa bỏ tự ti, mặc cảm, vươn lên thoát nghèo.

Đổi đời nhờ tín dụng chính sách xã hội

Những ngày cuối năm 2019, chúng tôi đến thăm gia đình ông A Đéc, người dân tộc Xơ Đăng ở làng Bring, xã Đăk Long, huyện Kon Plông. Ông hồ hởi khoe rằng, gia đình ông được vay 20 triệu đồng từ nguồn vốn của NHCSXH huyện mua được 2 con trâu, đến nay đàn trâu đã phát triển được 10 con. Không chỉ vượt qua nghèo đói mà nay ông đã xây được ngôi nhà cấp 4 kiên cố, khang trang, mua được ti vi, xe máy, cho con đi học, tái đầu tư và mở rộng trồng thêm 0,5 hec ta lúa nước, trồng 2 hec ta sắn. Ông nói: “Mình cảm ơn Nhà nước nhiều lắm đã cho vay vốn ưu đãi, gia đình mình đang gắng thoát nghèo rồi”.

Còn ông Nguyễn Minh Thuận, Chủ tịch UBND xã Sa Bình, huyện Sa Thầy thì cho biết, đây là một trong những xã nằm trong vùng lòng hồ thủy điện Ya Ly và Plei Krông. Những năm qua, nhờ đồng vốn của NHCSXH, rất nhiều hộ nghèo ở Sa Bình đã chuyển đổi cây trồng, phát triển chăn nuôi, nhất là nuôi bò đã vươn lên thoát nghèo bền vững, trong đó có nhiều hộ là người dân tộc thiểu số.

Tu Mơ Rông là huyện thuộc diện 30a, nơi vùng sâu của tỉnh Kon Tum với trên 96% là người dân tộc thiểu số. Phó Bí thư Thường trực huyện ủy Võ Trung Mạnh cho biết, bà con sinh sống dưới chân núi Ngọc Linh có độ cao khoảng 2.600m, người dân nơi đây chủ yếu tập trung vào phát triển trồng cây dược liệu (sâm) và nhờ vào nguồn vốn của NHCSXH là chủ yếu. Theo báo cáo, tổng dư nợ cho vay của NHCSXH huyện Tu Mơ Rông đến nay đạt trên 330 tỷ đồng, tăng 308 tỷ đồng so khi mới thành lập huyện năm 2003. Đến nay, NHCSXH huyện đã và đang triển khai thực hiện 15 chương trình tín dụng chính sách rất hiệu quả.

Cùng với sâm Ngọc Linh, trồng sâm dây cũng đang là một mô hình phát triển kinh tế mới mà nhiều hộ dân địa phương đang đầu tư trong mấy năm qua.

Theo bà Thảo Thị Ngọc Lan, Trưởng phòng Kế hoạch nghiệp vụ-tín dụng-    NHCSXH tỉnh Kon Tum, vốn tín dụng chính sách đã giúp cho hầu hết người nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn với thủ tục đơn giản. Thông qua nguồn vốn ưu đãi này đã giúp cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh bám đất, bám làng, thay đổi nhận thức từ sản xuất tự cấp, tự túc để phát triển các sản phẩm hàng hóa, vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng trên đồng đất của mình.

Không ít  gia đình ở Kon Tum đã thoát nghèo, làm giàu nhờ nguồn vốn chính sách, có của ăn, của để, xây cất nhà cửa khang trang, giờ đây còn dư vốn lại gửi vào NHCSXH.

Với việc người dân tin tưởng và mạnh dạn vay vốn để phát triển kinh tế, có thể thấy các chương trình tín dụng chính sách đã phát huy hiệu quả trong việc góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội ở Kon Tum những năm qua. Giám đốc NHCSXH tỉnh Lê Danh Thứ cho biết, hiện nay toàn tỉnh có 102 điểm giao dịch xã, phường, thị trấn, với 1.671 Tổ tiết kiệm và vay vốn. “Mạng lưới NHCSXH được phủ xuống tận các thôn, làng, thủ tục cho vay đơn giản, giải ngân kịp thời đã giúp người dân dễ dàng vay vốn, góp phần làm giảm tín dụng phi chính thống”. Trong năm 2018, Kon Tum đã có 25.043 lượt hộ được vay vốn, với số tiền 731 tỷ đồng; trong đó 8.168 lượt hộ nghèo, 2.371 lượt hộ cận nghèo, 2.687 lượt hộ mới thoát nghèo, 4.726 lượt hộ vay làm công trình cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, 4.418 lượt hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn, 24 hộ được vay vốn chương trình nhà ở chính sách theo Nghị định 100 của Chính phủ.

…Trời Tây Nguyên trong xanh, nắng vàng rực rỡ, trong ánh mắt của những người nông dân chất phác nơi vùng đất đỏ như chứa đựng một tình yêu sâu thẳm với đất và người nơi đây; ánh lên niềm tin về cuộc đổi đời sẽ nhanh đến với bà con đồng bào các dân tộc thiểu số trên vùng đất cực Bắc Tây Nguyên.

Nguyễn Văn Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250