EBRD hạ dự báo tăng trưởng kinh tế của Ukraine

08:13 | 11/05/2022

Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) cho biết kinh tế Ukraine sẽ giảm khoảng 30% trong năm nay do ảnh hưởng của cuộc xung đột.

Trước đó, hồi tháng 3, ngay sau khi xảy ra xung đột, EBRD nhận định kinh tế Ukraine sẽ tăng trưởng âm 20% trong năm 2022 này.

Tuy nhiên, EBRD dự báo kinh tế Ukraine sẽ đạt tăng trưởng 25% vào năm 2023, tăng từ mức dự báo đưa ra hồi tháng 3 là 23%.

EBRD cũng dự báo kinh tế Nga sẽ giảm 10% trong năm nay và tăng trưởng 0% trong năm sau, không thay đổi so với nhận định được đưa ra hồi tháng 3.

ebrd ha du bao tang truong kinh te cua ukraine
Thu hoạch ngũ cốc trên cánh đồng lúa mỳ ở Mala Divytsa, Ukraine. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Thủ tướng Ukraine Denys Shmyhal cho biết nước này thiệt hại khoảng 170 triệu USD mỗi ngày do xung đột khiến Kiev không thể tiếp cận các cảng biển và năng lực xuất khẩu quốc gia đã giảm hơn một nửa.

Người đứng đầu Chính phủ Ukraine đưa ra tuyên bố trên khi phát biểu tại thành phố cảng Odesa, miền Nam nước này, cùng với Chủ tịch Hội đồng châu Âu (EC) Charles Michel, người có chuyến thăm Ukraine ngày 9/5.

Thủ tướng Shmyhal cho biết hoạt động vận chuyển hàng hóa qua các cảng của Ukraine ở Biển Đen đã bị đình trệ kể từ khi xảy ra xung đột hồi cuối tháng 2. Hiện nay, khoảng 70 tàu hàng đang bị phong tỏa tại các cảng biển của Ukraine, trong đó có 10 tàu ở cảng Odessa.

Theo ông Shmyhal, khoảng 90 triệu tấn nông sản mà Ukraine dự định xuất khẩu sang các nước ở châu Á, châu Phi và châu Âu, đã bị phong tỏa. Ông Shmyhal cho biết thêm một số sản phẩm đã được xuất khẩu bằng đường bộ hoặc đường sắt, nhưng một số khác vẫn nằm trong các khu vực xảy ra xung đột.

Thủ tướng Shmyhal lo ngại cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu có thể xảy ra do hoạt động vận chuyển hàng hóa tại các cảng của Ukraine bị tê liệt, đồng thời kêu gọi Chủ tịch EC Michel tăng cường nỗ lực chung để ngăn chặn nguy cơ này.

Trong một diễn biến liên quan, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã nói với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) rằng ông cần 7 tỷ USD mỗi tháng để trả lương, lương hưu và các khoản chi tiêu khác của chính phủ. Mỹ đã cam kết cung cấp một phần ba số tiền đó trong ba tháng tới. EU dự định bù vào khoản thiếu bằng trái phiếu đặc biệt.

EC cũng đã thông báo ngắn gọn cho đại sứ các nước thành viên về kế hoạch này. Kế hoạch liên quan đến việc phát hành nợ dựa trên bảo lãnh từ các nước thành viên EU. Kế hoạch này có cấu trúc tương tự SURE, tên chương trình quyên góp 100 tỷ euro hỗ trợ cho các công dân EU bị mất việc làm do phong tỏa để phòng chống COVID-19. Khoản nợ đó sau đó được chứng khoán hóa dưới dạng trái phiếu có thời hạn từ 5-30 năm.

Kế hoạch có thể được công bố sớm nhất là vào ngày 18/5 và ít nhất ba quốc gia gồm Áo, Đức và Hy Lạp đã yêu cầu các lựa chọn thay thế. Họ đang hy vọng các nước không thuộc EU như Nhật Bản, Na Uy và Anh cũng sẽ tham gia, giúp EU bớt gánh nặng nợ nần. Pháp cũng đã đề xuất lãnh đạo các quốc gia EU thảo luận về vấn đề này trong một cuộc gặp thượng đỉnh vào cuối tháng 5.

Trong khi đó, đại diện cấp cao về Chính sách An ninh và Đối ngoại EU Josep Borrell đã đề xuất phương án khác để tài trợ cho quá trình tái thiết Ukraine: tịch thu kho dự trữ ngoại hối của Nga đang bị đóng băng theo lệnh trừng phạt của EU. Ông cũng cho rằng, việc sử dụng tài sản của Nga cho các mục đích tương tự là hoàn toàn hợp lý.

Ông Borrell cũng nêu ra một trong những câu hỏi quan trọng nhất hiện nay là: “Ai sẽ chi trả cho việc tái thiết Ukraine? Vì việc này sẽ cần một số tiền lớn”. Ông cho biết khoản tiền huy động được trong các hội nghị gần đây chỉ như “giọt nước giữa đại dương” và kêu cộng đồng quốc tế tìm ra những biện pháp khác để tài trợ cho việc tái thiết Ukraine. Ông nhấn mạnh sử dụng tài sản bị đóng băng của Nga có thể là một cách.

Vào cuối tháng 4, Nhà Trắng đã trình bày loạt đề xuất toàn diện bao gồm việc thiết lập một cơ quan hành chính tinh gọn để tịch thu tài sản của những nhà chính trị hàng đầu của Nga, sau đó chuyển chúng cho Kiev để “khắc phục hậu quả từ chiến dịch quân sự của Nga”.

Hùng Cường

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850