ECB cam kết duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ

05:58 | 26/07/2021

Mặc dù giữ nguyên chính sách tiền tệ như hiện tại, song Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) hôm thứ Năm đã điều chỉnh hướng dẫn của mình để phản ánh việc nâng mục tiêu lạm phát của mình.

ecb cam ket duy tri chinh sach tien te ho tro ECB đã sẵn sàng điều chỉnh lạm phát mục tiêu lên 2%
ecb cam ket duy tri chinh sach tien te ho tro Chính sách sẽ thay đổi kinh tế châu Âu
ecb cam ket duy tri chinh sach tien te ho tro ECB dự kiến công bố đường lối chính sách mới vào tuần tới

Theo đó sau khi kết thúc cuộc họp chính sách tháng 7, bên cạnh việc cam kết mua 1,85 nghìn tỷ euro (2,2 nghìn tỷ USD) trái phiếu cho đến tháng 3/2022 theo Chương trình Mua tài sản khẩn cấp để ứng phó với đại dịch (PEPP), các nhà hoạch định chính sách của ECB cũng đã bỏ phiếu nhất trí giữ nguyên biện pháp kích thích này trong thời điểm hiện tại.

Cơ quan này cũng giữ nguyên các mức lãi suất chính sách, cụ thể lãi suất tiền gửi là -0,5%, lãi suất tái cấp vốn chuẩn là 0% và lãi suất cho vay cận biên là 0,25%. Tuy nhiên, Hội đồng thống đốc của ECB đã sửa đổi hướng dẫn về lãi suất và nâng mục tiêu lạm phát lên mức đối xứng 2% trong trung hạn.

ecb cam ket duy tri chinh sach tien te ho tro
Ảnh minh họa

ECB cho biết trong một tuyên bố rằng họ hy vọng lãi suất sẽ duy trì ở mức hiện tại hoặc thấp hơn cho đến khi thấy lạm phát đạt mức 2% và lạm phát cơ bản là đủ để phù hợp với lạm phát ổn định ở mức 2% trong trung hạn. “Điều này cũng có thể ngụ ý trong một giai đoạn nhất thời, lạm phát ở mức vừa phải trên mục tiêu”, tuyên bố của ECB nói thêm.

Với việc lạm phát vẫn ở dưới mức mục tiêu, ECB cũng cam kết sẽ duy trì lập trường chính sách tiền tệ nới lỏng để đạt được mục tiêu lạm phát của mình. Dự báo mới nhất của ECB cho thấy lạm phát toàn phần sẽ ở mức 1,9% vào cuối năm 2021, sau đó giảm xuống 1,5% và 1,4% vào các năm 2022 và 2023.

Xian Chan - Giám đốc đầu tư quản lý tài sản tại HSBC lưu ý rằng giọng điệu của ECB đã trở nên “mạnh mẽ hơn”. Theo ông, đây là bước đi quan trọng mà ECB cần thực hiện bởi trước khi cuộc họp của ECB diễn ra, các thị trường bước không tin rằng cơ quan này có thể kích thích thành công hoạt động kinh tế và lạm phát.

“Thị trường đã giả định lạm phát chỉ là 1,6%, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu 2%”, ông cho biết. “Vì vậy, ngân hàng thực sự cần phải cho thấy họ có thể “mạnh mẽ hoặc bền bỉ hơn” như thế nào khi đưa ra hướng dẫn và điều đó sẽ không gây thất vọng”.

Chuyên gia này cũng gợi ý rằng giọng điệu của ECB sẽ hỗ trợ trong ngắn hạn cho chứng khoán châu Âu, trong khi dấu hiệu cho thấy lãi suất có thể duy trì thấp hơn trong thời gian dài có thể khiến đồng tiền chung giảm giá.

Neil Birrell - Giám đốc đầu tư tại Premier Miton cũng cho biết, tuyên bố của ECB cho thấy cơ quan này sẽ để lạm phát và tăng trưởng “nóng” hơn là gây rủi ro cho sự phục hồi kinh tế của khối.

Trong khi đó, phát biểu tại cuộc họp báo sau cuộc họp chính sách, Chủ tịch ECB Christine Lagarde cho biết “vẫn còn một chặng đường dài phía trước để bù đắp thiệt hại của nền kinh tế do đại dịch gây ra”.

Mặc dù lạm phát ở mức 1,9% trong tháng 6 và ECB dự kiến giá tiêu dùng sẽ tăng thêm trong những tháng tới, trước khi giảm trở lại vào năm 2022. Tuy nhiên bà Lagarde cho biết, sự gia tăng lạm phát hiện nay phần lớn là do giá năng lượng cao hơn và do tác động cơ bản từ việc giá dầu giảm mạnh khi bắt đầu đại dịch và tác động của việc giảm thuế VAT tạm thời ở Đức vào năm ngoái.

“Khi nền kinh tế phục hồi, được hỗ trợ bởi các biện pháp chính sách tiền tệ của chúng tôi, chúng tôi kỳ vọng lạm phát sẽ tăng trong trung hạn, mặc dù vẫn ở dưới mức mục tiêu của chúng tôi. Mặc dù các thước đo về kỳ vọng lạm phát dài hạn đã tăng lên, song chúng vẫn còn một khoảng cách so với mục tiêu 2% của chúng tôi”, Chủ tịch ECB nhận định.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800