ECB giữ nguyên lãi suất, quyết định đầu tiên của bà Lagarde

09:19 | 16/12/2019

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) hôm 12/12 đã quyết định giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp chính sách tiền tệ đầu tiên của tân Chủ tịch Christine Lagarde diễn ra tại Frankfurt. Theo đó, Hội đồng Thống đốc của ECB đã bỏ phiếu giữ nguyên lãi suất tiền gửi cơ bản ở mức thấp nhất trong lịch sử là -0,5%; lãi suất công cụ cho vay cận biên cũng được giữ ở mức 0,25%.

Bà Lagarde sẽ tiếp nối chính sách nới lỏng của ông Draghi
Di sản của Chủ tịch ECB Mario Draghi
ECB liệu có vô tình thắt chặt chính sách?

Tuyên bố phát đi sau đó của ECB nhắc lại rằng, lãi suất sẽ được duy trì ở mức hiện tại hoặc thấp hơn cho đến khi NHTW nhận thấy triển vọng lạm phát “hội tụ mạnh mẽ” đến ngay sát dưới mức 0,2% và lạm phát cơ bản vẫn luôn hội tụ với mức đó.

Ảnh minh họa

ECB cũng xác nhận rằng các giao dịch mua tài sản ròng đã bắt đầu vào tháng 11 với quy mô hàng tháng là 20 tỷ euro (22,3 tỷ USD) và điều này sẽ tiếp tục diễn ra miễn là cần thiết để củng cố lập trường chính sách nới lỏng.

Bên cạnh các quyết định chính sách, ECB cũng đưa ra dự báo kinh tế mới nhất của mình. Cụ thể ECB dự báo tăng trưởng GDP thực của khu vực đồng euro sẽ ở mức 1,2% trong năm 2019 và 1,1% trong năm 2020; sau đó sẽ phục hồi nhẹ lên mức 1,4% vào năm 2021 và 2022. Như vậy ECB đã nâng dự báo tăng trưởng năm 2019 thêm 0,1% xong lại cắt giảm 0,1% đối với tăng trưởng năm 2020 so với dự báo tháng 9.

Tân chủ tịch ECB Christine Lagarde cho rằng, sự suy giảm tăng trưởng đã được ổn định, nhưng các dữ liệu kinh tế đến sau cuộc họp chính sách tháng 10 đã chỉ ra rằng áp lực lạm phát và động lực tăng trưởng của khu vực đồng euro tiếp tục yếu ớt. “Những rủi ro đối với triển vọng tăng trưởng của khu vực đồng euro liên quan đến các yếu tố địa chính trị, chủ nghĩa bảo hộ đang gia tăng và tính dễ tổn thương ở các thị trường mới nổi vẫn nghiêng về phía suy giảm, nhưng đã trở nên ít rõ ràng hơn”, bà nói thêm.

Theo đó dự báo lạm phát đã được ECB điều chỉnh tăng 0,1% cho năm 2020; nhưng giảm 0,1% xuống còn 1,4% cho năm 2021, còn năm 2022 là 1,6%. “Với năm 2022, mặc dù dự báo lạm phát cả năm của chúng tôi là 1,6%; song riêng quý IV là 1,7%. Có nghĩa lạm phát có xu hướng tăng nhẹ trong năm 2022”, Lagarde nói trong cuộc họp báo đầu tiên của mình trên cương vị Chủ tịch ECB. “Điều đó có thỏa đáng không? Nó chắc chắn là định hướng tốt, nhưng liệu đó có phải là mục tiêu mà chúng tôi theo đuổi? Không!”, bà nhấn thêm.

Christine Lagarde từng là Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Bộ trưởng Tài chính Pháp. Khi đảm nhiệm cương vị mới – Chủ tịch ECB vào tháng 11, bà đã được thừa hưởng một di sản không mấy tốt đẹp khi lạm phát chỉ là 1%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu gần sát 2% mà ECB đã đề ra.

Trước đó hồi tháng 9, người tiền nhiệm của bà Lagarde là ông Mario Draghi đã đưa ra một gói kích thích lớn, bao gồm việc cắt giảm lãi suất tiền gửi cơ bản xuống -0,5% - mức thấp kỷ lục, cộng thêm một đợt nới lỏng định lượng thứ hai nhằm kích thích nền kinh tế trì trệ của khu vực đồng euro.

Tuy nhiên, động thái này đã gây nhiều tranh cãi ngay tại ECB. Thế nhưng Lagarde đã đề nghị hỗ trợ cho chương trình mua trái phiếu và việc cắt giảm lãi suất vào tháng 9, nhấn mạnh rằng những thách thức đảm bảo lập trường chính sách có tính hỗ trợ cao đã không giảm bớt.

Mặc dù Lagarde được dự kiến sẽ không thoát khỏi quỹ đạo do Draghi thiết lập nên ngay từ đầu nhiệm kỳ của mình, song hiện các nhà đầu tư vẫn đang theo dõi chặt chẽ những quyết định cũng như phát ngôn sắp tới của bà để có thể nắm bắt rõ hơn quan điểm chính sách trong tương lai.

Một trong những động thái đầu tiên của bà là công bố đánh giá chính sách trên phạm vi rộng, lần đầu tiên kể từ năm 2003. Tại cuộc họp báo hôm thứ Năm, Lagarde cho biết việc đánh giá sẽ được tiến hành vào tháng 1 và dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2020.

 

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.860 23.060 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.835 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.858 23.073 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.850 23.065 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.880 23.060 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.900 23.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.400
Vàng SJC 5c
56.700
57.420
Vàng nhẫn 9999
51.150
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550