Fed có thể tăng lãi suất sớm hơn

07:00 | 24/09/2021

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể công bố về việc bắt đầu thực hiện thu hẹp chương trình mua tài sản vào tháng 11 tới và sẽ hoàn thành vào giữa năm 2022. Đồng thời, lãi suất cũng có thể bắt đầu tăng lên trong năm tới. Đây là những nội dung chính sau cuộc họp chính sách tháng 9 của Fed vừa kết thúc.

fed co the tang lai suat som hon Fed phát tín hiệu sớm giảm mua trái phiếu, tăng lãi suất vào năm tới
fed co the tang lai suat som hon Fed có “siết chặt” chính sách?
fed co the tang lai suat som hon Fed vẫn thắt chặt lại tiền tệ dù lạm phát dịu bớt

Fed sẵn sàng cho khả năng “xoay chiều”

Nếu sự phục hồi kinh tế tiếp tục tiến triển như dự kiến, Fed "đánh giá rằng, việc điều chỉnh tốc độ mua tài sản có thể sớm được đưa ra", theo bản cập nhật chính sách của Fed công bố hôm thứ Tư, ngay sau khi cuộc họp chính sách 2 ngày 21-22/9 kết thúc. Thông điệp này cho thấy, dường như Fed không còn "hứa hẹn" sẽ theo dõi sát tình hình như những tuyên bố trước đây nữa, mà sẽ tập trung vào "đánh giá" xem nên hành động thế nào trong các cuộc họp chính sách sắp tới.

“Điều này báo hiệu việc thu hẹp quy mô chương trình mua tài sản có thể chính thức được thông báo vào tháng 11 tới. Nhưng ngay cả khi một động thái như vậy bị trì hoãn cho đến tháng 12/2021 hoặc sang tháng 1/2022, thì điều đó cũng không ảnh hưởng nhiều đến các thị trường - vốn đã được định giá trong bối cảnh có sự thay đổi chính sách”, Seema Shah, chiến lược gia trưởng tại Chief Global Investors, cho biết trong email nhận định về cuộc họp tháng 9 của Fed.

fed co the tang lai suat som hon
Fed đã sẵn sàng sớm giảm bớt kích thích kinh tế và có thể tăng lãi suất vào năm 2022

Thông tin từ cuộc họp cũng cho thấy, Fed có thể nâng lãi suất sớm nhất vào năm sau, thay vì đợi đến năm 2023 như các dự báo trước đó. Thông báo cập nhật chính sách và các dự báo kinh tế mới của Fed cho thấy, 9 trong số 18 quan chức Fed đã sẵn sàng tăng lãi suất vào năm tới để đối phó với lạm phát mà Fed hiện dự kiến sẽ ở mức 4,2% trong năm nay, cao hơn gấp đôi mức mục tiêu 2% đặt ra và cũng cao hơn đáng kể so với mức 3,4% trong dự báo trước đó.

Nhiệm vụ trọng yếu của Fed là giữ cho giá cả ổn định và đạt được việc làm tối đa. Trong suốt những tháng qua Chủ tịch Powell và nhiều quan chức khác của Fed luôn khẳng định rằng, cần có nhiều tiến bộ hơn nữa trên những “mặt trận” này trước khi Fed có sự điều chỉnh các chính sách. Trong khi “bài kiểm tra” về lạm phát đã được đáp ứng vì lạm phát liên tục ở xu hướng tăng cao hơn trong những tháng qua thì thị trường việc làm dù vẫn đang trên đà phục hồi nhưng chưa đủ mạnh như kỳ vọng.

Còn đó những rào cản cần phải vượt qua

Nhưng sau cuộc họp chính sách tháng 9, “giọng điệu” của ông Powell đã thay đổi. Chủ tịch Fed cho biết trong cuộc họp báo hôm thứ Tư, việc rút quy mô chương trình 120 tỷ USD mua trái phiếu hàng tháng của NHTW có thể bắt đầu sau cuộc họp chính sách ngày 2-3/11 tới, miễn là số liệu tăng trưởng việc làm tháng 9 "mạnh một cách hợp lý". Chủ tịch Fed Powell cho biết thêm, sẽ không cần đến một báo cáo việc làm (tháng 9) mang tính đột phá hoặc số liệu “siêu cải thiện” để bắt đầu thu hẹp chương trình mua tài sản, và dự kiến quá trình thu hẹp này sẽ kết thúc vào giữa năm 2022. Việc ông Powell đề cập đến một lộ trình thu hẹp như vậy mang lại hàm ý rằng, Fed muốn hoàn tất rút lui khỏi chương trình mua tài sản này trước khi bắt đầu lộ trình nâng lãi suất vào năm tới như nhiều quan chức Fed đã thể hiện quan điểm ủng hộ ở trên.

Các NĐT từ lâu đã kỳ vọng Fed sẽ giảm bớt các biện pháp kích thích hàng tháng vì sự phục hồi diễn ra khá tốt trong mùa hè. Nhưng một báo cáo việc làm đáng thất vọng trong tháng 8 đã đẩy lùi những kỳ vọng đó. Do đó, thông báo hôm thứ Tư của Fed dường như hoàn toàn phù hợp với những gì mà các NĐT đã dự đoán và đó dường như cũng lý giải cho việc thị trường chứng khoán tiếp tục giữ được đà tăng sau khi thông tin cuộc họp của Fed được công bố.

Sau gần 20 tháng đại dịch Covid-19 hoành hành khiến kinh tế Mỹ ngập trong khó khăn, hiện các hoạt động kinh doanh cơ bản đã phục hồi, tiêu dùng mạnh mẽ trở lại, thị trường lao động cũng có nhiều cải thiện… Tuy nhiên, cuộc sống và các hoạt động chưa thể trở lại trạng thái hoàn toàn bình thường khi Covid vẫn còn đó, nhất là với biến thể Delta đang diễn biến phức tạp và khiến mọi người vẫn e ngại và cẩn trọng trong tiếp xúc. Nhiều nhà kinh tế đã bắt đầu tính toán đến tác động của biến thể Delta đến nền kinh tế vào mùa đông này, và Fed cũng vậy. Fed cho rằng, các lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi đại dịch đều có cải thiện trong những tháng gần đây nhưng sự gia tăng số ca nhiễm Covid-19 gần đây đang làm chậm quá trình phục hồi.

Các dự báo kinh tế cập nhật nhất của Fed cho thấy, tăng trưởng kinh tế năm nay có thể chỉ ở mức 5,9%, thấp hơn đáng kể so với mức 7% trong dự báo trước đó và tháng 6, trước khi tốc độ tăng trưởng có thể tốt hơn trong năm 2022, lên 3,8% từ 3,3%. Fed hiện cũng dự kiến tỷ lệ thất nghiệp sẽ cao hơn một chút, ở mức 4,8%. Lạm phát cũng có thể sẽ ở mức cao hơn vào cuối năm, ở mức 4,2% thay vì mức 3,4% được dự báo trước đó. Fed dự báo lạm phát sẽ cao hơn mục tiêu 2% trong 3 năm liên tiếp sắp tới. Cụ thể, lạm phát được dự báo ở mức 2,2% vào năm 2022 và 2023; mức 2,1% vào năm 2024.

Hồng Quân

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.658 22.870 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.644 22.854 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.150
57.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.150
57.850
Vàng SJC 5c
57.150
57.870
Vàng nhẫn 9999
50.800
51.500
Vàng nữ trang 9999
50.400
51.200