Fed phát tín hiệu sớm giảm mua trái phiếu, tăng lãi suất vào năm tới

09:14 | 23/09/2021

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vừa cho biết họ có khả năng sẽ bắt đầu giảm lượng mua trái phiếu ngay từ tháng 11 và tăng lãi suất sớm hơn dự kiến​.

fed phat tin hieu som giam mua trai phieu tang lai suat vao nam toi

Quan điểm "diều hâu" hơn được thấy trong một tuyên bố chính sách và dự báo kinh tế mới, cho biết 9 trong số 18 quan chức Fed ủng hộ việc tăng lãi suất vào năm tới để đối phó lạm phát tăng cao với ước tính của ngân hàng trung ương sẽ ở mức 4,2% trong năm nay, cao hơn gấp đôi mục tiêu 2%.

Việc cắt giảm chương trình mua trái phiếu trị giá 120 tỷ USD mỗi tháng có thể sẽ bắt đầu ngay sau cuộc họp chính sách từ ngày 2-3/11 nếu tăng trưởng việc làm trong tháng Chín đủ mạnh mẽ, Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết tại cuộc họp báo sau phiên họp vừa kết thúc.

Báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng Chín của Mỹ sẽ được công bố vào đầu tháng 10, cũng là báo cáo cập nhật nhất trước thềm cuộc họp tháng 11 của các nhà hoạch định chính sách của Fed.

“Không cứ phải là một báo cáo việc làm cực kỳ mạnh mẽ để có thể bắt đầu điều chỉnh chương trình mua trái phiếu, khi quá trình này đã được dự kiến ​​sẽ kết thúc vào giữa năm tới", Powell nói.

Lình trình đó đem đến nhiều thông tin giá trị. Bởi vì, Fed vẫn muốn kết thúc việc mua trái phiếu kho bạc và chứng khoán thế chấp trước khi bắt đầu tăng lãi suất, và vì thế cho thấy các quan chức ngân hàng trung ương đã sẵn sàng để điều đó xảy ra vào năm 2022.

Fed hiện dự báo lạm phát sẽ cao hơn mục tiêu trong 4 năm liên tiếp, ở mức 2,2% vào năm 2022 và 2023, 2,1% vào năm 2024. Mặc dù các mức trên chỉ cao hơn không nhiều so với mục tiêu, nhưng nó đã bắt đầu gây chia rẽ quan điểm trong nội bộ cơ quan điều hành trước câu hỏi liệu rủi ro lớn nhất có phải là tác động kéo dài của đại dịch đối với nền kinh tế, với tỷ lệ thất nghiệp tương đối cao, hay chính là mối đe dọa của lạm phát lớn.

Vào thời điểm hiện tại, Fed vẫn dự đoán có thể thúc đẩy việc làm trong khi hạn chế lạm phát, điều mà Fed cho là kết quả của các yếu tố mang tính "nhất thời" và sẽ từ từ tự giảm xuống.

Theo đó, việc tăng lãi suất dự kiến ​​sẽ diễn ra chậm, với lãi suất cho vay qua đêm chuẩn của Fed lên 1% vào năm 2023 và sau đó là 1,8% vào năm 2024, vẫn được coi là lập trường chính sách tiền tệ lỏng lẻo để có thể đưa tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống mức trước đại dịch, vào khoảng 3,5%.

Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách đã hạ thấp kỳ vọng về tăng trưởng kinh tế trong năm nay, với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) dự kiến ​​sẽ chỉ tăng 5,9%, thấp hơn so với mức 7,0% được dự báo vào tháng 6, phần lớn là do làn sóng lây nhiễm COVID-19 mới.

Nhìn chung, tuyên bố và dự đoán của Fed "có lẽ hơi hiếu chiến hơn nhiều so với dự đoán của nhiều người, về cơ bản thừa nhận rằng nếu nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng như hiện nay, Fed sẽ thắt chặt dần chính sách", Sam Stovall, trưởng bộ phận đầu tư của CFRA Research ở New York, nói. "Có thể coi đó là một thông báo rút ngắn thời gian so với dự kiến, ​​mặc dù Fed đã hạ dự báo tăng trưởng năm 2021".

Powell nói với các phóng viên rằng điều kiện tài chính sẽ vẫn phù hợp ngay cả sau khi Fed ngừng mua tài sản, nhấn mạnh rằng quyết định liên quan đến chương trình mua trái phiếu tách biệt với bất kỳ hành động nào về lãi suất.

Sau cuộc họp vào thứ Tư, Fed đã quyết định giữ nguyên mức lãi suất mục tiêu hiện tại trong phạm vi từ 0% đến 0,25%.

Chứng khoán Mỹ tăng mạnh sau tuyên bố của Fed, sau đó điều chỉnh nhẹ vào cuối phiên ngày thứ Tư, với chỉ số S&P 500 đóng cửa tăng khoảng 1%. Lợi tức trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm giảm.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.635 22.855 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.654 22.866 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.643 22.853 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
58.000
58.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
58.000
58.700
Vàng SJC 5c
58.000
58.720
Vàng nhẫn 9999
51.500
52.200
Vàng nữ trang 9999
51.100
51.900