Fed vẫn thắt chặt lại tiền tệ dù lạm phát dịu bớt

07:00 | 20/09/2021

Mặc dù giá tiêu dùng tại Mỹ tăng với tốc độ chậm nhất trong 8 tháng vào tháng 8 cho thấy lạm phát có thể đã đạt đỉnh, tuy nhiên các chuyên gia kinh tế vẫn dự báo Fed sẽ đưa ra kế hoạch bắt đầu thu hẹp chương trình mua tài sản (QE) vào tháng 11 tới.

Lạm phát có dấu hiệu đạt đỉnh

Báo cáo của Bộ Lao động Mỹ công bố tuần trước cho thấy, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của nền kinh tế lớn nhất thế giới chỉ tăng 0,3% trong tháng 8 so với tháng trước, thấp hơn nhiều mức tăng 0,57% của tháng 7 và là mức tăng nhỏ nhất kể từ tháng 1. Còn so với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 8 tăng 5,3%, cũng thấp hơn mức tăng 5,4% của tháng 7.

Nếu không tính thành phần thực phẩm và năng lượng thì CPI lõi chỉ tăng 0,1% trong tháng 8 sau khi tăng 0,3% trong tháng 7 và là mức tăng nhỏ nhất kể từ tháng 2 năm nay. Tính trong 12 tháng đến tháng 8, CPI lõi tăng 4,0% sau khi tăng 4,3% trong 12 tháng tính đến tháng 7.

Nguyên nhân khiến CPI lõi tăng chậm lại là do giá ô tô và xe tải đã qua sử dụng giảm 1,5%, kết thúc 5 tháng tăng liên tiếp. Bên cạnh đó, giá vé máy bay cũng giảm 9,1% trong tháng 8, có thể là do sự bùng phát trở lại của dịch Covid-19 do biến thể Delta đã làm giảm nhu cầu đi lại bằng đường hàng không. Giá thuê xe có động cơ và bảo hiểm cũng giảm.

fed van that chat lai tien te du lam phat diu bot
Giá một số mặt hàng tại Mỹ giảm có thể do làn sóng lây nhiễm Covid-19 mới

Sự suy giảm trên diện rộng về áp lực giá cả đã củng cố niềm tin lâu nay của Chủ tịch Fed Jerome Powell rằng lạm phát cao trong những tháng đầu năm chỉ là tạm thời. Tuy nhiên, các nhà kinh tế cảnh báo rằng còn quá sớm để ăn mừng bởi sự giảm giá của một số nhóm hàng có thể là do làn sóng lây nhiễm Covid-19 mới đang bùng phát trở lại.

Trong khi đó, các nút thắt trong chuỗi cung ứng vẫn còn và thị trường lao động đang thắt chặt, đẩy lương lên cao. Ngoài ra tình trạng thiếu nhà cũng đang khiến giá nhà tăng kỷ lục và giá thuê nhà đang tăng lên do chiến dịch tiêm chủng vaccine ngừa Covid-19 cho phép các công ty triệu tập nhân viên đến văn phòng, kéo người Mỹ quay trở lại các thành phố.

Theo các nhà kinh tế, tất cả những yếu tố này có thể góp phần níu giữ lạm phát hàng năm cao hơn. Số liệu được công bố trước đó cũng cho thấy, chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng mạnh trong tháng 8 với mức tăng hàng năm lớn nhất trong gần 11 năm.

Fed vẫn sẽ thu hẹp QE

“Ngay cả khi mức tăng CPI hàng tháng chậm lại, mức tăng lớn qua từng năm sẽ vẫn tồn tại cho đến năm 2022”, Chris Low - Nhà kinh tế trưởng tại FHN Financial ở New York cho biết “Sự chậm lại trong các lĩnh vực nhạy cảm với việc mở cửa trở lại là một bằng chứng khác cho câu chuyện tạm thời về lạm phát, nhưng mức tăng ổn định ở những nơi khác cho thấy lạm phát sẽ tiếp tục duy trì ngay cả sau khi những lĩnh vực đó điều chỉnh”.

“Lạm phát vẫn mạnh một cách đáng lo ngại, ngay cả khi nó không bùng nổ như hồi đầu năm”, James McCann - Nhà kinh tế tại Aberdeen Standard Investments ở Boston cho biết. “Chỉ khi chúng ta tiếp tục chứng kiến lạm phát tiếp tục đi xuống trong 6 tháng tới, điều đó sẽ giảm bớt áp lực buộc Fed phải nhanh chóng tăng lãi suất sau khi thu hẹp chương trình mua tài sản”, James McCann nói thêm.

Thời gian gần đây, một số quan chức Fed cũng cho rằng, họ tin Fed sẽ bắt đầu rút lại chương trình mua trái phiếu với quy mô 120 tỷ USD mỗi tháng của mình sớm hơn thay vì muộn hơn. Nhưng Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết, ông muốn thấy các báo cáo việc làm mạnh mẽ hơn trước khi công bố việc thu hẹp chương trình này.

Với việc lạm phát dịu bớt, nhiều khả năng Fed sẽ chưa có bất kỳ động thái chính sách gì tại cuộc họp chính sách diễn ra ngày 21-22/9 tới. Tuy nhiên nhiều nhà kinh tế vẫn dự báo, Fed sẽ đưa ra kế hoạch vào tháng 11 để bắt đầu thu hẹp chương trình mua trái phiếu hàng tháng khổng lồ của mình.

Sam Stovall - Chiến lược gia đầu tư của CFRA cho biết, ông không mong đợi một thông báo chính thức cho đến tháng 11. Việc Fed thu hẹp chương trình mua trái phiếu sẽ là bước đi quan trọng đầu tiên của Fed nhằm thoát khỏi chính sách siêu nới lỏng và cuối cùng tạo tiền đề cho việc tăng lãi suất.

Một số nhà kinh tế cũng hy vọng các quan chức tại Fed sẽ nâng ước tính lạm phát của họ khi Ngân hàng Trung ương Mỹ công bố bản tóm tắt các dự báo kinh tế vào cuối cuộc họp chính sách diễn ra từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 9.

Chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân cốt (PCE) lõi - thước đo lạm phát ưa thích của Fed - đã tăng 3,6% trong 12 tháng tính đến tháng 7, tương đương với mức tăng trong tháng 6. Dữ liệu của tháng 8 sẽ được công bố vào cuối tháng này.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.660 22.860 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.658 22.870 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.644 22.854 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.150
57.870
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.150
57.850
Vàng SJC 5c
57.150
57.870
Vàng nhẫn 9999
50.800
51.500
Vàng nữ trang 9999
50.400
51.200