Fed sẽ thu hẹp chính sách nới lỏng

07:00 | 01/11/2021

Cục Dự trữ Liên bang được dự báo sẽ thực hiện bước đi đầu tiên nhằm thoát khỏi chính sách nới lỏng mà họ đã đưa ra để ứng phó với đại dịch Covid-19, một dấu mốc quan trọng trên con đường trở bình thường hóa chính sách tiền tệ.

Sẽ thu hẹp chương trình mua tài sản

Cuộc họp chính sách kéo dài hai ngày thứ Ba và thứ Tư của Fed là sự kiện lớn đối với các thị trường trong tuần này. Tại cuộc họp này, Fed được dự kiến sẽ thông báo bắt đầu thu hẹp dần quy mô mua vào trái phiếu để tiến tới kết thúc hoàn toàn chương trình này vào giữa năm tới.

Trong khi NHTW Anh được dự kiến cũng sẽ tăng lãi suất tại cuộc họp diễn ra vào thứ Năm. Các động thái này diễn ra sau khi Hàn Quốc, Na Uy và nhiều nước khác đã tăng lãi suất. “Fed là một phần của một động thái toàn cầu nhằm loại bỏ chính sách tiền tệ siêu nới lỏng và thị trường sẽ vượt qua điều đó”, Peter Boockvar - CIO của Bleakley Advisory Group cho biết.

Michael Schumacher của Wells Fargo cũng cho biết, thị trường đang rất mong đợi Fed thông báo sẽ giảm lượng mua trái phiếu 15 tỷ USD mỗi tháng, bắt đầu từ tháng 11 hoặc tháng 12.

fed se thu hep chinh sach noi long

Fed đã thực hiện chương trình mua trái phiếu với quy mô 120 tỷ USD mỗi tháng vào đầu năm 2020, khi cơ quan này cắt giảm mạnh lãi suất và triển khai các chương trình mua tài sản để hỗ trợ thanh khoản cho nền kinh tế.

Tuy nhiên theo các nhà phân tích, việc thu lại chính sách kích thích tiền tệ của Fed là điều chắc chắn khi mà kinh tế Mỹ đang trên đà phục hồi, trong khi lạm phát đang có xu hướng tăng cao. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tại Mỹ đã tăng trên 5% và CPI lõi tăng 4% trong tháng 9 so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt chỉ số PCE lõi - thước đo lạm phát ưa thích của Fed - đã tăng 3,6% trong tháng 9 so với cùng kỳ năm ngoái.

Mặc dù phần lớn các quan chức của Fed, bao gồm cả Chủ tịch Fed Jerome Powell cho rằng, lạm phát cao hiện nay chỉ là tạm thời và sẽ được giải tỏa khi chuỗi sản xuất, cung ứng hàng hóa được nối lại, trong khi nhu cầu sẽ trở về mức cân bằng hơn. Thế nhưng nhiều chuyên gia lo ngại, những yếu tố tạm thời này sẽ không dễ biến mất trong một sớm, một chiều.

Theo Goldman Sachs, khoảng cách 0,4 điểm phần trăm giữa CPI lõi và PCE lõi thậm chí còn có thể sẽ mở rộng trong năm tới do giá nhà tăng. Định chế này cũng dự báo, chỉ số CPI sẽ trong khoảng 5% vào đầu năm 2022 trước khi giảm xuống 4% vào giữa năm và 3,1% vào cuối năm - vẫn cao hơn khoảng một điểm phần trăm so với mục tiêu lạm phát của Fed.

Bao giờ tăng lãi suất?

Trong khi việc thu hẹp quy mô mua tài sản đã gần như chắc chắn thì hiện Fed vẫn đang để ngỏ về thời điểm tăng lãi suất. Chủ tịch Fed Jerome Powell đã từng nói, lạm phát là vấn đề quan trọng nhất vì điều đó sẽ thúc đẩy kỳ vọng lãi suất. Tuy nhiên, Powell được dự kiến sẽ nhấn mạnh rằng, Fed sẽ không tăng lãi suất cho đến khi việc mua trái phiếu kết thúc vào giữa năm tới.

Bởi vậy theo Michael Schumacher của Wells Fargo, những bình luận của ông Jerome Powell về lạm phát tại cuộc họp chính sách sắp tới là vô cùng quan trọng và ông Powell dường như đang lo ngại về kỳ vọng lạm phát đang được hình thành. Trên thực tế, dường như các quan chức Fed cũng đã cảm nhận rõ sức nóng của lạm phát hiện tại.

Theo Chris Gaffney - Chủ tịch thị trường toàn cầu của TIAA Bank, cảm giác chung giữa các nhà ngân hàng trung ương và các ngân hàng trung ương lớn là lạm phát hiện nay sẽ không sớm kết thúc. “Không ai còn sử dụng "tạm thời" nữa, nhưng họ không cảm thấy như chúng ta sắp có lạm phát cao kéo dài”, ông nói.

Trong khi các nhà kinh tế của Goldman David Mericle và Spencer Hill cũng cho biết, mặc dù chỉ số PCE là thước đo lạm phát ưa thích của Fed, các quan chức Fed đang xem xét nhiều biện pháp và ngày càng có vẻ như bộ dữ liệu lạm phát đầy đủ sẽ trông khá nóng trên cơ sở hàng năm vào giữa năm tới, chương trình mua tài sản kết thúc. “Như chúng tôi đã lưu ý gần đây, điều này làm tăng nguy cơ tăng lãi suất sớm hơn vào năm 2022”.

Hiện thị trường đang định giá Fed có thể tăng lãi suất tới 3 lần trong năm 2022 khi áp lực giá cả gia tăng. Theo công cụ FedWatch của CME, các nhà giao dịch nhận thấy 65% khả năng lần tăng lãi suất đầu tiên sẽ diễn ra vào tháng 6, lần thứ hai vào tháng 9 (51%) và 51% khả năng xảy ra đợt tăng thứ ba vào tháng 2/2023. Xác suất gần đây nhất cho tháng 12/2022 là 45,8%.

Tuy nhiên, trong dự báo mới nhất của Fed, chỉ một nửa số quan chức đồng ý rằng nên có một đợt. Theo Michael Schumacher, kỳ vọng của thị trường về việc tăng lãi suất có thể là hơi thái quá và ông không mong đợi động thái tăng lãi suất cho đến đầu năm 2023.

Gaffney của TIAA Bank cũng cho rằng, mức tăng trưởng 2% yếu hơn dự kiến của quý III có thể giúp Fed thuyết phục các thị trường rằng họ sẽ giữ lãi suất thấp hơn trong thời gian dài hơn. “Miễn là họ vẫn còn duy trì chính sách hỗ trợ, tôi nghĩ rằng sự phục hồi vẫn tiếp tục”, ông nói.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.540 22.850 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.570 22.850 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.562 22.862 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.610 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.610 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.565 22.857 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.585 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.600 22.800 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.620 22.800 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.050
61.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.050
61.650
Vàng SJC 5c
61.050
61.670
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900