Giảm lãi suất hướng tới mục tiêu kép

09:30 | 01/10/2020

Chiều ngày 30/9, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành quyết định điều chỉnh lãi suất điều hành.

giam lai suat huong toi muc tieu kep Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh giảm một loạt lãi suất điều hành
giam lai suat huong toi muc tieu kep Điểm lại thông tin kinh tế ngày 29/9
giam lai suat huong toi muc tieu kep
Giảm lãi suất điều hành sẽ tạo điều kiện cho các TCTD giảm thêm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp

Cụ thể, tại quyết định số 1728, NHNN đã giảm lãi suất tái cấp vốn từ 4,5%/năm xuống 4,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 3,0%/năm xuống 2,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng từ 5,5%/năm xuống 5,0%/năm.

Cùng đó, lãi suất chào mua giấy tờ có giá thông qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) cũng giảm từ 3,0%/năm xuống 2,5%/năm. Quyết định số 1729/QĐ-NHNN giảm mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại các tổ chức tín dụng. Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng là 0,2%/năm. Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn 1-6 tháng giảm từ 4,25%/năm xuống 4,0%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng tại Quỹ tín dụng nhân dân, từ 4,75%/năm xuống 4,5%/năm. Còn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên do ngân hàng ấn định trên cơ sở cung - cầu vốn thị trường. 

Tại Quyết định số 1730/QĐ-NHNN, mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND của TCTD đối với khách hàng vay ở một số lĩnh vực, ngành kinh tế cũng giảm 0,5 điểm phần trăm từ 5,0%/năm xuống 4,5%/năm… Các quyết định trên có hiệu lực từ ngày 1/10/2020. 

Đây là lần thứ ba kể từ đầu năm NHNN giảm đồng loạt các mức lãi suất điều hành để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD, giảm chi phí vay vốn của DN và người dân. Lý giải cho lần điều chỉnh này, NHNN cho biết, từ đầu năm đến nay, NHNN đã điều hành đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ và giảm mặt bằng lãi suất thị trường, hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm 2020 đạt 2,12%, lạm phát được kiểm soát, bình quân 9 tháng đạt 3,85%. Việc quyết định giảm thêm lãi suất điều hành theo NHNN nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế.

Theo đánh giá của TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Tài chính (Bộ Tài chính), quyết định giảm đồng loạt các loại lãi suất điều hành là phù hợp với diễn biến thị trường. Bởi lạm phát đang có xu hướng giảm, trong khi tín dụng đang tăng trưởng chậm, việc giảm lãi suất sẽ vừa hỗ trợ tăng trưởng tín dụng vừa đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. 

TS. Võ Trí Thành - Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính tiền tệ quốc gia cũng cho biết, ông không bất ngờ với quyết định giảm lãi suất điều hành của NHNN vì trước đó, lãnh đạo NHNN đã phát đi tín hiệu về khả năng giảm lãi suất khi điều kiện thị trường cho phép. Hiện tại, lạm phát có xu hướng giảm, thanh khoản các ngân hàng khá dồi dào, trong khi tín dụng đang tăng trưởng thấp... “Đây là cơ sở quan trọng để NHNN điều chỉnh giảm lãi suất điều hành, điều tiết thanh khoản, tạo thuận lợi nhất để các TCTD có nguồn vốn rẻ cho doanh nghiệp, người dân vay, kích thích tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ nền kinh tế”, ông Thành nói.

Trên thực tế, kể từ đầu tháng 9 đến nay, làn sóng giảm lãi suất huy động diễn ra mạnh hơn. Hàng loạt ngân hàng như Vietcombank, HDBank, Techcombank, ACB, NamABank… đồng loạt giảm thêm 0,2-0,4%/năm lãi suất huy động tùy từng kỳ hạn. Như vậy, từ đầu năm đến nay, lãi suất huy động nhiều kỳ hạn đã giảm rất sâu, có kỳ hạn giảm tới 2,5%/năm. Hiện tại, lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng tại một số ngân hàng chỉ còn 3,3%, thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Trong khi đó, trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất cho vay qua đêm cũng thấp kỷ lục.  

Việc giảm đồng loạt lãi suất ngân hàng theo đánh giá của giới chuyên môn là động thái tích cực để hỗ trợ các doanh nghiệp hiện tại, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng nhưng đây không phải yếu tố quan trọng nhất. Theo TS. Võ Trí Thành, lãi suất không phải là rào cản của tăng trưởng tín dụng mà là do sức cầu tín dụng yếu của nền kinh tế. Do vậy thời gian tới, việc hấp thụ được hay không còn phụ thuộc vào việc kiểm soát dịch bệnh cũng như quá trình phục hồi kinh tế thế giới. TS. Võ Trí Thành cho rằng, từ nay đến cuối năm, dù vẫn còn khả năng hạ lãi suất thêm lần nữa, nhưng khó xảy ra nếu quá trình phục hồi kinh tế cả trong nước và thế giới tốt hơn. 

Để hỗ trợ tốt hơn cho  nền kinh tế, theo đề xuất của TS. Nguyễn Đức Độ, thời gian tới, chính sách tài khóa cần phải đẩy mạnh hơn như giải ngân đầu tư công... Thông qua chính sách này, tiền bơm trực tiếp vào nền kinh tế thông qua chi tiêu, nhu cầu đầu tư cũng cao hơn. Hoặc Việt Nam nối lại chính sách thương mại với các nước trên thế giới sẽ thúc đẩy nhu cầu đầu tư của DN tăng lên, kích thích họ vay vốn ngân hàng nhiều hơn. Khi đó, tính nhạy cảm lãi suất sẽ tích cực hơn. Còn hiện tại, tính nhạy cảm của tổng cầu đang cao hơn so với lãi suất.

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.255 23.535 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.770 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.250 23.536 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.200
67.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.200
67.200
Vàng SJC 5c
66.200
67.220
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.400
53.000