Hoạt động sản xuất ở Trung Quốc vẫn ảm đạm

09:17 | 03/06/2020

Hoạt động sản xuất của Trung Quốc tiếp tục giảm trong tháng 5/2020, cho thấy tốc độ phục hồi sản xuất vẫn rất chậm kể từ khi sụt giảm trong quý đầu năm nay.

Trung Quốc níu kéo các doanh nghiệp nước ngoài
Căng thẳng Mỹ - Trung: Sang trang mới
Hồng Kông có thể mất vị thế thương mại đặc biệt

Theo các dữ liệu được công bố của Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, chỉ số thu mua sản xuất chính thức đã giảm xuống mức 50,6 từ mức 50,8 tháng trước đó và thấp hơn so với dự kiến. Trong khi đó, chỉ số phi sản xuất lại tăng lên 53,6 so với chỉ số 50 trước đây.

Cũng theo dữ liệu của Cục Thống kê, việc phục hồi hoạt động sản  xuất của Trung Quốc sau đại dịch vẫn có nguy cơ chậm lại bất chấp sự phục hồi này ban đầu được hỗ trợ bởi nhu cầu sản xuất bị dồn nén trong suốt kỳ đại dịch. Giai đoạn này chứng kiến sự trở lại chủ yếu của các công ty công nghiệp thông qua chỉ số sản lượng đang tăng trở lại, tuy nhiên, sự sụt giảm của các đơn đặt hàng cũng đã gây ra một làn sóng chấn động trong lĩnh vực này.

Ảnh minh họa

Nếu đem so sánh với triển vọng sản xuất của  hầu hết các khu vực còn lại của châu Á thì hoạt động sản xuất dường như vẫn đang trong tình trạng thu hẹp. Không chỉ ở Trung quốc, hoạt động sản xuất của các nhà máy châu Á cũng diễn ra trong tình trạng ảm đạm. Theo chuyên gia kinh tế trưởng người Trung Quốc, ông Iris Pang, nhu cầu sản xuất toàn cầu vẫn còn yếu ngay cả khi lệnh giãn cách xã hội được nới lỏng ở một số thành phố lớn trên thế giới. Nhu cầu về việc làm vẫn bị thu hẹp trong tháng 5 và công nhân tại các nhà máy sản xuất vẫn bị sa thải sau khi các nhà máy phải đối mặt với việc liên tục rút đơn hàng xuất khẩu. Chỉ số của các đơn hàng xuất khẩu mới tăng lên 35,3%, việc làm sản xuất giảm xuống 49,4%, trong khi việc làm phi sản xuất là 48,5%.

Theo các chuyên gia kinh tế của Bloomberg, nền kinh tế Trung Quốc sẽ tiếp tục lấy lại đà tăng trưởng trong những tháng tới. Nhu cầu từ nước ngoài có khả năng cải thiện một khi các nền kinh tế thế giới bắt đầu thoát khỏi tình trạng giới nghiêm. Tuy nhiên, rủi ro tiềm tàng có thể phát sinh do sự căng thẳng leo thang trong mối quan hệ giữa Hoa kỳ và Trung Quốc.

Chính phủ Trung Quốc vừa công bố gói kích thích kinh tế trong năm và đã từ bỏ mục tiêu tăng trưởng mạnh mẽ trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu cũng đang sụt giảm, đồng thời cam kết nới lỏng tiền tệ và hàng nghìn tỷ nhân dân tệ được tung ra cho việc cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng. Các nhà máy trong nước đã đưa một số công nhân trở lại làm việc trong dây chuyền sản xuất sau khi bị ngừng hoạt động trong quý đầu năm nay. Tuy nhiên, rất nhiều nhà máy vẫn phải đối mặt với tình trạng tồn kho và sự sụt giảm của các đơn đặt hàng không chắc chắn. Một số nhà máy thì lâm vào tình trạng mất khả năng phục hồi, có nghĩa là họ bị phá sản và tỷ lệ thất nghiệp dự kiến sẽ gia tăng.

Ông Zhao Qinghe, chuyên gia kinh tế của Cục Thống kê Trung Quốc cho biết, tình hình dịch bệnh toàn cầu hiện nay và tình hình kinh tế thế giới vẫn còn rất ảm đạm và phức tạp, trong khi đó nhu cầu thị trường nước ngoài vẫn tiếp tục bị thu hẹp. Mặc dù có sự gia tăng nhỏ trong chỉ số sản xuất các đơn hàng xuất khẩu mới và chỉ số nhập khẩu trong tháng này, nhưng chỉ số này vẫn ở mức thấp nhất trong lịch sử kinh tế Trung Quốc.

Minh Đức

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080