HSBC: Không nên vay từ quỹ dự trữ ngoại hối

13:06 | 22/05/2015

Tại cuộc họp Chính phủ tháng 4 vừa qua, đại diện Bộ Tài chính đã đề nghị nghiên cứu, đề xuất cơ chế cho ngân sách vay từ nguồn dự trữ ngoại hối (DTNH) Nhà nước để thêm vốn vào các hoạt động đầu tư phát triển mà không ảnh hưởng đến an toàn tài chính quốc gia.

Theo đánh giá của các chuyên gia Khối nghiên cứu kinh tế của Ngân hàng HSBC, nguyên nhân chính để đưa ra đề xuất này là do nhu cầu yếu kém đối với trái phiếu Chính phủ (TPCP) ở các phiên đấu giá gần đây. Trong 250.000 tỷ đồng kế hoạch phát hành TPCP của năm 2015, Bộ Tài chính chỉ mới phát hành thành công  66.000 tỷ đồng từ đầu năm tới nay (tương đương với 27% kế hoạch).

Và một trong những nguyên nhân của tình hình ảm đạm này là Nghị quyết 78 (có hiệu lực từ đầu năm 2015), theo đó quy định Bộ Tài chính chỉ có thể phát hành trái phiếu có thời hạn bằng hoặc dài hơn 5 năm. Điều này đã làm việc phát hành TPCP có sự ảnh hưởng lớn bởi dường như thị trường không có hứng thú để mua loại trái phiếu dài hạn này.

Một lý do khác khiến nhu cầu yếu đối với trái phiếu dài hạn yếu có thể là những văn bản mới được ban hành gần đây như Thông tư 36 giới hạn các NHTM sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn của mình để đầu tư TPCP.

Hy vọng đặt ở kỳ họp Quốc hội đang diễn ra. 11 dự án luật kỳ vọng sẽ được thông qua và 15 dự luật sẽ được Quốc hội cho ý kiến, trong đó luật Ngân sách Nhà nước là một trong những dự luật được quan tâm nhiều nhất. Hy vọng được đặt vào sự thay đổi đối với Nghị quyết 78, từ đó tạo cơ hội cho Bộ Tài chính có nhiều linh động trong việc phát hành trái phiếu.

“Nếu như Nghị quyết 78 không được sửa đổi trong phiên họp Quốc hội lần này, chúng tôi không kỳ vọng Chính phủ sẽ được thông qua quy định cho phép vay tiền từ nguồn DTNH bởi sẽ có nhiều nguy cơ ẩn chứa” - báo các của HSBC nhận định.

Theo các chuyên gia HSBC, bất kỳ quyết định nào về việc Chính phủ được vay tiền từ nguồn DTNH cũng sẽ gây rủi ro đến sự ổn định tiền đồng. “Việc NHNN phải dùng nguồn DTNH để bảo vệ tỷ giá và tài trợ vốn cho các dự án Chính phủ sẽ khiến đồng Việt Nam rơi vào thế bấp bênh. DTNH hiện nay chỉ ở khoảng 2,5 tháng nhập khẩu, thấp hơn nhiều so với mức tối thiểu cần thiết là ba tháng. Tình hình còn xấu hơn khi cán cân thương mại đã chuyển từ ngưỡng dương sang ngưỡng âm từ đầu năm đến nay. Điều này sẽ càng gây khó khăn cho nguồn DTNH và tiền tệ. Do đó, NHNN dường như không có dư địa để cho Chính phủ vay. Một giải pháp dễ dàng hơn để giải quyết nguyên nhân gốc rễ của vấn đề là sửa đổi Nghị quyết 78” – báo cáo này nhận định và đề xuất.

HSBC cũng giữ quan điểm cho rằng, mặc dù NHNN đã giảm giá tiền đồng hai lần trong năm nay nhưng vẫn kỳ vọng NHNN sẽ không điều chỉnh tỷ giá USD/VND thêm một lần nữa. Mức tỷ giá dự báo của HSBC do đó vẫn ở mức 21.750 vào cuối năm nay.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.540 22.850 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.570 22.850 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.562 22.862 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.580 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.610 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.610 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.565 22.857 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.585 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.600 22.800 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.620 22.800 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
61.050
61.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
61.050
61.650
Vàng SJC 5c
61.050
61.670
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.900