IMF cắt giảm dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2022

09:36 | 26/01/2022

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vừa hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu trong năm nay. Nguyên nhân được giải thích là do số ca lấy nhiễm Covid-19 lại gia tăng, sự gián đoạn chuỗi cung ứng vẫn tiếp tục và lạm phát cao hơn cản trở sự phục hồi kinh tế.

imf cat giam du bao tang truong toan cau nam 2022

Trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới được công bố hôm thứ Ba, IMF dự báo ​​tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu sẽ giảm xuống 4,4% vào năm 2022 từ mức 5,9% trong năm 2021, với con số của năm nay được điều chỉnh giảm nửa điểm phần trăm so với ước tính trước đó.

“Nền kinh tế toàn cầu bước vào năm 2022 ở tình trạng kém hơn so với dự kiến ​​trước đây”, báo cáo cho biết, lưu ý thêm rằng “những yếu tố bất lợi” đến tự việc xuất hiện của biến thể omicron và biến động thị trường phức tạp hơn so với giai đoạn cơ quan này đưa ra dự báo trước đó vào tháng 10.

Việc điều chỉnh dự báo cũng có nguyên nhân từ việc triển vọng tăng trưởng ở hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc đang suy yếu hơn.

Mỹ được dự báo ​​sẽ chỉ đạt tăng trưởng 4,0% trong năm nay, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với dự báo trước đó, do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ rút lại các biện pháp kích thích tiền tệ và sự gián đoạn chuỗi cung ứng đè nặng lên nền kinh tế số một thế giới. Đồng thời, báo cáo triển vọng cập nhật cũng loại bỏ gói hỗ trợ tài khóa Build Back Better theo đề xuất của Tổng thống Biden sau khi nó không được thông qua.

Trong khi đó, Trung Quốc được dự đoán sẽ chỉ đạt tăng trưởng 4,8% trong năm nay, giảm 0,8 điểm phần trăm so với ước tính trước đó, trong bối cảnh có những gián đoạn sản xuất do chính sách Zero-Covid gây ra và “rủi ro tài chính” của các nhà phát triển bất động sản.

Ở những nơi khác, số ca lây nhiễm Covid-19 vẫn tiếp tục gia tăng cùng với lạm phát và giá năng lượng cao hơn đã ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởng toàn cầu, đáng chú ý nhất là ở Brazil, Canada và Mexico.

IMF cho rằng lạm phát cao hơn có thể ​​sẽ tồn tại lâu hơn so với dự đoán trước đây, bổ sung rằng nó sẽ hạ nhiệt vào cuối năm nay "khi sự mất cân bằng cung cầu giảm dần trong năm 2022 và các nền kinh tế lớn đưa ra các chính sách phản ứng".

Với triển vọng dài hạn, báo cáo nâng dự báo tăng trưởng năm 2023 thêm 0,2 điểm phần trăm lên 3,8%. Tuy nhiên, IMF lưu ý rằng con số này chưa tính đến khả năng xuất hiện của một biến thể Covid-19 mới và cho rằng nếu kịch bản đó xảy ra thì kết quả kinh tế sẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng tiếp cận vắc-xin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe công bằng trên toàn cầu.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700