IMF nâng dự báo triển vọng kinh tế toàn cầu

10:09 | 15/10/2020

Mặc dù tỏ ra lạc quan hơn về kinh tế toàn cầu trong năm nay, nhưng Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vẫn cảnh báo, thế giới vẫn phải đối mặt với sự phục hồi không đồng đều cho đến khi đại dịch coronavirus được kiểm soát.

Suy giảm nhẹ hơn

Trong Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới (WEO) vừa được công bố hôm 13/10, IMF dự báo GDP toàn cầu sẽ chỉ suy giảm 4,4% trong năm nay, nhẹ hơn một chút so với mức giảm 5,2% được đưa ra trong Báo cáo tháng 6.

Việc nâng dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2020 của IMF chủ yếu do tăng trưởng kinh tế quý hai tốt hơn dự kiến ở Mỹ và khu vực đồng tiền chung euro, trong khi kinh tế Trung Quốc cũng tăng trưởng mạnh hơn dự đoán, cộng thêm dấu hiệu phục hồi nhanh hơn trong quý ba.

imf nang du bao trien vong kinh te toan cau

Theo đó, kinh tế Mỹ được dự báo sẽ chỉ giảm 4,3% trong năm nay thay vì giảm tới 8% như dự báo được đưa ra hồi tháng 6, mức dự báo cải thiện nhất trong số các nền kinh tế lớn. Tuy nhiên, nền kinh tế lớn nhất thế giới chỉ tăng trưởng ở mức 3,1% vào năm 2021, giảm so với mức 4,5% như dự báo trước đó.

Tương tự, khu vực đồng euro ước tính sẽ thu hẹp 8,3% trong năm nay, nhẹ hơn so với mức giảm 10,2% trong dự báo trước đó. Tuy nhiên tăng trưởng năm 2021 của khu vực được điều chỉnh xuống mức 5,2% từ mức 6% trong dự báo tháng 6.

Nhìn chung, các nền kinh tế tiên tiến sẽ chỉ suy giảm 5,8% trong năm nay thay vì giảm 8,1% như dự báo trước đó. Ngược lại, triển vọng đối với các thị trường mới nổi lại xấu hơn một chút khi được dự báo sẽ giảm 3,3% trong năm nay, sâu hơn so với mức giảm 3,1% trước đó.

Trung Quốc là nền kinh tế lớn duy nhất được dự báo sẽ tăng trưởng dương với mức tăng trưởng dự kiến là 1,9% trong năm nay và 8,2% vào năm 2021. Trong khi IMF hạ mạnh triển vọng tăng trưởng của Ấn Độ khi dự báo nước này sẽ suy giảm tới 10,3% trong năm nay thay vì giảm 4,5% như dự báo trước đó do nền kinh tế Ấn Độ bị thu hẹp mạnh hơn dự kiến trong quý hai.

Mặc dù tỏ ra lạc quan hơn trong năm nay, nhưng IMF lại hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2021 xuống còn 5,2% thay vì mức 5,4% như dự báo trước đó. Nhìn chung, IMF nhận thấy sản lượng toàn cầu vào cuối năm 2021 cao hơn 0,6% so với cuối năm 2019 là thời điểm trước khi xảy ra đại dịch, nhưng thành quả đó hầu như là do Trung Quốc thúc đẩy. Trong khi hầu hết các quốc gia khác, bao gồm cả Mỹ, sẽ cần phải đợi ít nhất đến năm 2022 mới có thể phục hồi hoàn toàn về mức trước khi đại dịch xảy ra.

Chưa nên sớm rút kích thích

Mặc dù vậy, sự suy giảm của kinh tế toàn cầu trong năm nay vẫn là mạnh nhất kể từ cuộc Đại suy thoái trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đã cướp đi sinh mạng của hơn 1 triệu người và khiến hàng loại doanh nghiệp lớn phải đóng cửa. Báo cáo được công bố tại Hội nghị thường niên của IMF/WB được tổ chức từ ngày 12-18/10 dưới hình thức trực tuyến, mà tại các nhà hoạch định chính sách toàn cầu sẽ thảo luận về cách ngăn chặn làn sóng vỡ nợ ở các quốc gia nghèo hơn do tác động của vi rút.

IMF cho biết tình trạng nghèo đói cùng cực sẽ gia tăng lần đầu tiên sau hơn hai thập kỷ, và thiệt hại kinh tế dai dẳng cho thấy mức sống kém hơn so với những ngày trước đại dịch. Hầu hết các nền kinh tế dự kiến sẽ chịu thiệt hại lâu dài do suy thoái sâu.

“Sự phục hồi sẽ diễn ra chậm chạp. Đây là lý do tại sao chúng tôi mô tả đây là một sự đi lên kéo dài, không đồng đều và không chắc chắn”, Gita Gopinath - Nhà kinh tế trưởng của IMF cho biết hôm thứ Ba trong một cuộc phỏng vấn với Bloomberg Television. “Bạn đang thấy những người lao động có kỹ năng thấp, thanh niên, phụ nữ chịu nhiều tổn thương hơn trên thị trường lao động, vì vậy chúng tôi thấy bất bình đẳng gia tăng và người nghèo ngày càng nghèo hơn”.

Nhà kinh tế trưởng của IMF cũng cảnh báo rằng các quốc gia chưa nên rút lại các biện pháp hỗ trợ. Theo IMF, tác động của suy thoái đã được giảm nhẹ bởi các sáng kiến chính sách, bao gồm một gói phục hồi đại dịch ở châu Âu và chương trình mua tài sản quy mô lớn của các NHTW. Sự hỗ trợ chưa từng có như vậy đã giúp giảm bớt các điều kiện tài chính kể từ tháng 6 ở các nền kinh tế tiên tiến cũng như ở hầu hết các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. “Các nhà hoạch định chính sách cần tránh rút lại các biện pháp hỗ trợ sớm để tránh thất bại”, Gopinath nói.

Đáng chú ý theo IMF, triển vọng tăng trưởng trung hạn giảm đi sẽ đi kèm với sự gia tăng đáng kể nợ quốc gia - khoảng 20 điểm phần trăm ở các nền kinh tế tiên tiến lên 125% GDP vào cuối năm 2021 và hơn 10 điểm phần trăm ở các nước mới nổi và đang phát triển.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.960 23.170 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.980 23.180 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.970 23.180 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.973 23.185 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.969 23.169 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.980 23.160 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.000 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.460
55.850
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.460
55.830
Vàng SJC 5c
55.460
55.830
Vàng nhẫn 9999
52.730
53.330
Vàng nữ trang 9999
52.330
53.030