Khảo sát của ACCA và IMA: Chỉ số niềm tin kinh tế Quý 1/2021 tăng mạnh nhất trong lịch sử

10:54 | 20/04/2021

Khảo sát Điều kiện kinh tế toàn cầu (GECS) năm 2021 do ACCA (Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh quốc) và IMA ® (Hiệp hội Kế toán Quản trị Hoa Kỳ) thực hiện cho thấy chỉ số niềm tin toàn cầu tăng mạnh nhất trong thập kỷ vừa qua, trong đó khu vực Bắc Mỹ có mức tăng cao nhất.

GECS là cuộc khảo sát kinh tế thường kỳ có quy mô lớn nhất với sự tham gia của hơn 1.000 kế toán và chuyên gia tài chính cấp cao trên thế giới, đã xác định được quy mô thực sự của cuộc suy thoái toàn cầu do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và theo dõi mức độ sụt giảm niềm tin kể từ khi đại dịch bắt đầu. Khảo sát này cũng cho thấy một triển vọng mới về chỉ số niềm tin nhờ vào tác động tổng hợp của vắc-xin và các gói kích thích tài chính.

Khảo sát GECS lần này đã ghi nhận mức tăng trưởng nhảy vọt của chỉ số niềm tin toàn cầu kể từ khi cuộc khảo sát này bắt đầu được thực hiện từ 10 năm trước đây. Điều kiện kinh tế đã được cải thiện đáng kể trong khoảng thời gian giữa cuộc khảo sát Quý 4/2020 được thực hiện vào tháng 12 năm ngoái và cuộc khảo sát Quý 1/2021 được thực hiện vào tháng 3 năm nay.

khao sat cua acca va ima chi so niem tin kinh te quy 12021 tang manh nhat trong lich su
Khảo sát GECS lần này đã ghi nhận mức tăng trưởng nhảy vọt của chỉ số niềm tin toàn cầu kể từ khi cuộc khảo sát này bắt đầu được thực hiện từ 10 năm trước đây.

Các tác giả ghi nhận rằng việc các cơ quan quản lý nhà nước phê chuẩn sử dụng một số loại vắc-xin COVID-19 hiệu quả cao - và tiếp đến là việc triển khai kế hoạch tiêm vắc-xin COVID-19 trên diện rộng ở nhiều quốc gia là một giải pháp lâu dài cho cuộc khủng hoảng y tế hiện nay. Các chỉ số đo lường hoạt động kinh tế được dùng trong khảo sát bao gồm số lượng đơn hàng, đầu tư xây dựng cơ bản, việc làm, đều có sự tăng trưởng nhất định trong Quý 1/2021 - khá giống với chỉ số lòng tin trong Quý 4/2019 trước khi xảy ra đại dịch.

Michael Taylor, Chuyên gia kinh tế trưởng tại ACCA cho biết: “Năm 2020, sau khi trải qua cuộc suy thoái lớn nhất trong vài thập kỷ gần đây, nền kinh tế toàn cầu đang nhanh chóng lấy lại đà phục hồi. “Tin tốt lành là các nước trên thế giới đang tiếp tục hỗ trợ chính sách để triển khai kế hoạch tiêm chủng nhằm đưa nền kinh tế toàn cầu thoát khỏi vực thẳm COVID-19 trong năm nay”.

Raef Lawson, Ph.D., CMA, CPA, Phó Chủ tịch phụ trách Nghiên cứu và chính sách của IMAnhận định rằng lộ trình phục hồi kinh tế toàn cầu hiện nay khác với lộ trình phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009, khi các công ty tư nhân phải tăng cường tiết kiệm để có thể cân đối tài chính.

Ông Lawson cho biết: “Sự khác biệt của cuộc khủng hoảng lần này nằm ở chỗ nguyên nhân gốc rễ của nó là các vấn đề về y tế chứ không phải các vấn đề kinh tế. Hiện vẫn còn nhiều rủi ro do tỷ lệ nhiễm COVID-19 trên toàn cầu còn tương đối cao so với tỷ lệ tiêm chủng. Tuy nhiên, các gói hỗ trợ quy mô lớn của chính phủ dành cho hộ gia đình và khu vực doanh nghiệp trong năm qua sẽ góp phần duy trì khả năng chi tiêu của cả hai khu vực này sau khi cuộc khủng hoảng y tế kết thúc. Có thể cuộc khủng hoảng COVID-19 sẽ tạo ra những thay đổi vĩnh viễn trong xu hướng chi tiêu và để lại các hậu quả kinh tế lâu dài khác."

Có 3 yếu tố lớn đang ảnh hưởng tới triển vọng kinh tế hiện nay. Thứ nhất là tỷ lệ tiêm chủng. Việc tiêm chủng có thể giúp gỡ bỏ các biện pháp giãn cách xã hội hiện đang được áp dụng để kiểm soát dịch, qua đó giúp khôi phục hoạt động kinh tế. Thứ hai là các gói kích thích tài khóa lớn, ví dụ như các gói kích thích tài khóa của Mỹ, sẽ có tác động lan tỏa tích cực đến nền kinh tế của các quốc gia khác. Cuối cùng, đặc biệt là ở các nền kinh tế phát triển, các khoản tiết kiệm đáng kể tích lũy được trong các giai đoạn chi tiêu bị hạn chế nghiêm trọng có thể góp phần kích cầu khi điều kiện kinh tế được cải thiện.

Các phát hiện của cuộc khảo sát Quý 1/2021 cũng cho thấy rằng, tương tự như chỉ số về số lượng đơn hàng, chỉ số niềm tin đã được cải thiện ở tất cả các khu vực ngoại trừ châu Phi. Các chỉ số “quan ngại cao” lo ngại về việc khách hàng và nhà cung cấp bị phá sản có kết quả khảo sát không đồng nhất, mặc dù đều ở trên mức trung bình dài hạn, phản ánh sự gia tăng của mức độ không chắc chắn. Ngoài ra, lo ngại về chi phí ngắn hạn cũng tăng, phản ánh việc tăng giá hàng hóa và các chi phí khác khi nền kinh tế toàn cầu phục hồi.

Bên cạnh đó, khảo sát GECS cho thấy 2/3 số người trả lời khảo sát cho rằng tỷ lệ lạm phát sẽ tăng trong 5 năm tới, trong đó khu vực Bắc Mỹ dự kiến sẽ có tỷ lệ lạm phát cao hơn so với khu vực Tây Âu.

Kinh tế Mỹ có thể sẽ tăng trưởng trên 6%

Đối với khu vực Bắc Mỹ, nền kinh tế Mỹ có thể sẽ tăng trưởng trên 6% trong năm nay, chủ yếu do tác động tích cực của chính sách tài khóa; các gói kích thích tài khóa có trị giá lên đến 14% GDP đã được thông qua kể từ tháng 12/2020. Phần lớn các kế hoạch chi tiêu của Kế hoạch giải cứu nước Mỹ mới nhất không liên quan trực tiếp đến các khoản cứu trợ COVID-19 mà là các chính sách khác của chính quyền tổng thống mới. Tuy nhiên, những khoản tiền trợ cấp cho các hộ gia đình có thể góp phần thúc đẩy tăng trưởng bằng cách bổ sung cho khoản tiết kiệm tích lũy của người có thu nhập thấp. Tổng mức tiết kiệm bổ sung của khu vực hộ gia đình (ngoài mức tiết kiệm trong trường hợp không có trợ cấp) ước đạt 1,8 nghìn tỷ USD (8% GDP).

Nền kinh tế Mỹ suy giảm ở mức tương đối ít là 3,5% trong năm 2020 nhưng đã tăng trưởng ổn định khi bước sang năm 2021. Hiện nay phần lớn dân số đã được tiêm phòng, nền kinh tế đang tiến vào quỹ đạo tăng trưởng mạnh mẽ thậm chí trước cả khi các gói kích thích kinh tế mới nhất được triển khai.

Ông Lawson nhận định: “Trên thực tế, Mỹ gần như chắc chắn sẽ là nền kinh tế lớn đầu tiên sau Trung Quốc có thể khôi phục được mức sản xuất như trước đại dịch vào nửa cuối năm nay. Rủi ro đối với các nhà hoạch định chính sách của Mỹ là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đang được nới lỏng đáng kể đi đôi với mức tiết kiệm cao có thể dẫn đến tình trạng tăng trưởng nóng và khiến lạm phát gia tăng”.

Ông Taylor đề cập đến mối lo ngại về tình trạng lạm phát cao và kéo dài. Trước đây, trong bối cảnh giãn cách xã hội, mức cầu thị trường và giá hàng hoá giảm mạnh, tỷ lệ lạm phát chạm 0% ở nhiều nền kinh tế phát triển và sụt giảm ở các nền kinh tế khác. Ông Taylor cho biết: “Trong khi thế giới hậu đại dịch đang từng bước định hình, có khả năng lạm phát sẽ tăng cao trong ngắn hạn và trung hạn." Trong tương lai gần, chi phí gia tăng có khả năng sẽ đưa tỷ lệ lạm phát trở lại mức 2% trong nhiều trường hợp.

Khảo sát Quý 1/2021 diễn ra từ ngày 26 tháng 2 đến ngày 11 tháng 3 năm 2021, với phản hồi từ 1.004 thành viên ACCA và IMA, trong đó bao gồm hơn 100 giám đốc tài chính.

CK

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.860 23.060 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.835 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.858 23.073 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.850 23.065 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.880 23.060 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.900 23.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.400
Vàng SJC 5c
56.700
57.420
Vàng nhẫn 9999
51.150
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550