Kinh tế EU vẫn trên đà suy thoái

10:28 | 13/01/2021

Quy mô nền kinh tế khu vực đồng Euro đang bị thu hẹp trở lại vào đầu năm nay khi đại dịch bùng phát trở lại, đẩy khu vực này vào cuộc suy thoái.

Các chuyên gia phân tích tại các ngân hàng bao gồm JPMorgan Chase & Co. và UBS Group AG đang hạ cấp các dự báo tăng trưởng tại EU.

Thêm vào đó, ảnh hưởng của dịch bệnh cùng các gián đoạn thương mại vì Brexit đã làm hiển hiện viễn cảnh về quý thứ hai liên tiếp giảm sút GDP. Điều này có thể giống như tình trạng suy thoái vào đầu năm 2020, làm gia tăng áp lực nợ lên các chính phủ và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB). Thực tế này khiến EU cần phải nhóm họp để đưa ra các chính sách cấp bách vào tuần tới nhằm cung cấp thêm hỗ trợ tài chính.

kinh te eu van tren da suy thoai
Ảnh minh họa

Mặc dù hoạt động kinh tế khu vực đồng Euro có nhiều tín hiệu tăng lên trong tuần đầu tiên của năm nay khi mọi người trở lại làm việc, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với một năm trước. Chính vì thế, vẫn còn rất nhiều vấn đề lớn cần giải quyết.

Bloomberg Economics vừa cho biết, tăng trưởng nền kinh tế khu vực đồng Euro sẽ giảm khoảng 4% trong 3 tháng đầu năm 2021, dựa trên các giả định có phần “bi quan” về việc giãn cách xã hội do dịch bệnh.

JPMorgan thì nhận định, nền kinh tế EU đã bị suy giảm 9% trong quý IV năm 2020, hiện ngân hàng này dự báo mức suy giảm 1% trong quý đầu tiên của năm nay so với dự báo trước đó là tăng trưởng 2%.

Cùng với đó, UBS cũng dự báo mức giảm trong quý đầu tiên là 0,4%, so với kỳ vọng trước đó là tăng trưởng 2,4%. Goldman Sachs Group Inc. dự đoán tăng trưởng kinh tế cuả EU sẽ giảm nhẹ.

Bên cạnh đó, Brexit cũng đang có tác động không hề nhỏ lên các quốc gia EU. Theo ING Groep NV, ngoài sự xáo trộn gây ra bởi đại dịch Covid-19, thì xuất khẩu cũng có thể suy yếu trở lại sau khi có dấu hiệu tăng trưởng vào cuối năm 2020 với việc các công ty của các quốc gia khu vực đồng Euro đổ xô vận chuyển sản phẩm đến Vương quốc Anh lúc chưa có kết quả đàm phán thương mại về Brexit.

Trong các nước EU, Hà Lan dự kiến tăng trưởng bằng 0 trong ba tháng tới và cho biết nền kinh tế sẽ không trở lại mức trước đại dịch cho đến năm 2023. Đã có sự khác biệt khá lớn giữa các quốc gia thành viên EU. Đức đã được hưởng lợi từ việc có thể chủ động hơn vào sản xuất, với việc các nhà máy vẫn có thể hoạt động, trong khi các cửa hàng không thiết yếu và phần lớn các khách sạn đã được yêu cầu đóng cửa. Bloomberg Economics cho biết, Đức đã đạt được một số tăng trưởng trong quý IV/2020.

Trong bối cảnh hiện nay, tất cả các chính phủ EU đang chịu áp lực ngày càng gia tăng trong việc hỗ trợ các công ty và người lao động bằng viện trợ tài chính. Việc này được hậu thuẫn bởi các kích thích tiền tệ lớn của ECB giữ cho chi phí đi vay gần bằng không.

ECB hiện đã rút chương trình mua trái phiếu cho đến tháng 3/2022, cho thấy có thể vượt qua năm nay mà không cần bất kỳ điều chỉnh chính sách lớn nào.

Vào nửa cuối năm 2021, quỹ phục hồi 1,8 nghìn tỷ Euro (2,2 nghìn tỷ USD) chưa từng có của EU sẽ hỗ trợ tăng trưởng.

Minh Đức

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.934 23.177 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.970 23.165 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.980 23.160 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.977 23.189 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.946 23.171 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.950
56.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.950
56.500
Vàng SJC 5c
55.950
56.520
Vàng nhẫn 9999
54.800
55.350
Vàng nữ trang 9999
54.450
55.150