Kinh tế hồi phục tạo động lực cho tín dụng

09:56 | 18/02/2022

Kinh tế phục hồi sẽ mở ra cho các ngân hàng nhiều dư địa tăng trưởng, trong đó mảng tăng trưởng đột phá được nhiều ngân hàng kỳ vọng là tín dụng bán lẻ.

kinh te hoi phuc tao dong luc cho tin dung WB: Kinh tế Việt Nam và những điểm sáng đầu năm
kinh te hoi phuc tao dong luc cho tin dung Chia sẻ gánh nặng, trợ lực cho khách hàng
kinh te hoi phuc tao dong luc cho tin dung Khí thế mới, vận hội mới

Để hỗ trợ nền kinh tế đạt được mục tiêu tăng trưởng 6-6,5% trong năm 2022, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng ở mức 14%, nhưng sẽ được linh hoạt tuỳ diễn biến thực tế. Theo đánh giá của TS. Võ Trí Thành - Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 14% hoàn toàn có thể đạt được trong năm 2022, thậm chí có thể cao hơn. Nhưng điều có ý nghĩa ở đây không chỉ ở con số mà là thông điệp điều hành chính sách linh hoạt của NHNN.

“Điều đó cho thấy cơ quan điều hành tiếp tục duy trì sự mềm dẻo trong điều hành chính sách, vừa gắn với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế”, TS. Thành cho biết và nhấn thêm: Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước gặp rất nhiều biến động do tác động của dịch bệnh, điều hành chính sách tiền tệ cũng như các chính sách khác phải rất linh hoạt, thiết thực để hỗ trợ được nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân một cách hiệu quả nhất. Đặc biệt, cần phải phối hợp nhịp nhàng giữ chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2022-2023.

kinh te hoi phuc tao dong luc cho tin dung
Mặt bằng lãi suất cho vay đang ở mức thấp

Nhiều chuyên gia cũng dự báo, động lực tăng trưởng tín dụng năm nay tích cực hơn so với năm 2021. Đó là triển vọng GDP năm nay tăng trưởng 6-7%, độ phủ vắc-xin ngày càng lớn, xuất khẩu tăng trưởng tích cực, Chính phủ đang đốc thúc triển khai Chương trình Phục hồi và Phát triển kinh tế - xã hội...

Theo TS. Cấn Văn Lực - Kinh tế trưởng BIDV, Chương trình Phục hồi và Phát triển kinh tế - xã hội sẽ tác động đến cả phía cung và phía cầu, góp phần khôi phục và thúc đẩy các hoạt động đầu tư, sản xuất và tiêu dùng, hỗ trợ cho sự tăng trưởng của ngành Ngân hàng năm 2022 nói chung, tăng trưởng tín dụng nói riêng.

Báo cáo về ngành Ngân hàng mới đây của Công ty chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng lạc quan đánh giá, năm 2022 các chương trình phục hồi nền kinh tế sẽ tác động tích cực lên ngành Ngân hàng. “Các gói hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo niềm tin doanh nghiệp, cải thiện lưu thông và dòng tiền, đồng thời giảm tổn thất tín dụng với mức độ tùy thuộc vào quy mô, tiến độ và hiệu quả của gói kích thích và đà phục hồi. Khi điều kiện kinh doanh được cải thiện sẽ hạn chế rủi ro tín dụng của nền kinh tế. Từ đó thúc đẩy cung - cầu về tín dụng”, VDSC nhận định.

Thực tế đã chứng minh cho nhận định lạc quan trên là hoàn toàn có cơ sở khi tính đến ngày 28/1/2022, dư nợ tín dụng tăng khoảng 2,74% so cuối năm 2021 cao hơn nhiều mức tăng 0,53% của tháng 1/2021. Đây là mức tăng trưởng ấn tượng khi tháng 1 theo quy luật hàng năm, thường tín dụng tăng thấp. “Dư nợ tín dụng bứt phá ngay từ những ngày đầu năm cho thấy khả năng phục hồi của doanh nghiệp sau khi nền kinh tế trở lại trạng thái bình thường mới khá tích cực. Nhất là tại các địa phương kiểm soát dịch bệnh, doanh nghiệp trên địa bàn phục hồi nhanh”, một chuyên gia ngân hàng nhìn nhận.

Vụ Tín dụng các ngành kinh tế NHNN cho biết, tính đến cuối năm 2021, tín dụng nền kinh tế đã tăng trưởng 13,53% so với cuối năm 2020. Cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ. Rõ nét nhất là lĩnh vực xuất khẩu - trụ đỡ rất quan trọng cho nền kinh tế khi tín dụng cho lĩnh vực này năm qua ước tăng 13,32%; tương tự tín dụng nông nghiệp, nông thôn ước tăng 13,5%...

Kinh tế phục hồi sẽ mở ra cho các ngân hàng nhiều dư địa tăng trưởng, trong đó mảng tăng trưởng đột phá được nhiều ngân hàng kỳ vọng là tín dụng bán lẻ. Tổng giám đốc VIB Hàn Ngọc Vũ cho hay, hiện dư nợ cá nhân hộ tiêu dùng trên GDP ở Việt Nam khoảng 30%, thấp hơn nhiều so với Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc, Singapore. Tỷ lệ thâm nhập của sản phẩm cho khách hàng cá nhân ở Việt Nam, như cho vay mua nhà, thẻ tín dụng hoặc bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng, hiện cũng chưa cao. Trong khi đó, tỷ lệ dân số trẻ và tầng lớp trung lưu đang tăng trưởng mạnh và sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong dân số, hứa hẹn mang đến cơ hội rất lớn cho mảng bán lẻ, thúc đẩy nhu cầu nhà ở, tiêu dùng thời gian tới.

Một yếu tố nữa đang được kỳ vọng sẽ tạo động lực tăng trưởng tín dụng đó là mặt bằng lãi suất cho vay đang ở mức rất thấp. Tuy nhiên lãi suất đang chịu nhiều áp lực. TS. Lê Xuân Nghĩa cho biết, dư địa giảm lãi suất ngày càng hạn hẹp. Tại Việt Nam, dù áp lực lạm phát trong nước không quá lớn nhưng chịu sức ép từ bên ngoài, nhất là nguy cơ nhập khẩu lạm phát. Trong khi cầu tín dụng tăng trở lại, thanh khoản hệ thống bớt dồi dào ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để hút vốn. Về lý thuyết nếu phải tăng giá đầu vào, thì các ngân hàng khó mà giảm được thêm lãi suất đầu ra.

Giám đốc Khối Tài chính VPBank Lê Hoàng Khánh An nhận định, kinh tế Việt Nam đang quay về trạng thái vận hành bình thường sau giai đoạn chống dịch. Hơn nữa, từ cuối năm 2021, dòng tiền dân cư có sự dịch chuyển từ kênh tiết kiệm sang kênh chứng khoán, bất động sản khiến huy động vốn trên thị trường 1 của các ngân hàng trở nên khó khăn và cạnh tranh hơn. Do đó, mặt bằng lãi suất năm 2022 dự kiến tăng, không còn thấp như năm 2021 nữa.

Đồng quan điểm, lãnh đạo một ngân hàng cũng thừa nhận, năm 2022, mặt bằng lãi suất huy động rẻ sẽ không còn nữa. Song, dù chi phí đầu vào bị đội lên, nhưng ngân hàng cũng cố duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ổn định. Vì dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, sự phục hồi của nền kinh tế chưa thể vững nên mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp vẫn được ngân hàng đặt lên hàng đầu. Doanh nghiệp có mạnh thì ngân hàng mới khoẻ.

Cuối tuần qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có Công điện gửi các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đôn đốc triển khai quyết liệt, hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội… Trong đó Thủ tướng yêu cầu NHNN Việt Nam trình Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định hướng dẫn thực hiện hỗ trợ lãi suất cho vay từ ngân sách nhà nước đối với doanh nghiệp, Hợp tác xã, hộ kinh doanh… Trao đổi với phóng viên, bà Hà Thu Giang - Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho biết, Dự thảo Nghị định hướng dẫn thực hiện hỗ trợ lãi suất cho vay từ ngân sách nhà nước đang được NHNN khẩn trương hoàn thiện để gửi các bộ, ngành cho ý kiến trong tuần này.

Hà Thành

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.710 24.020 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.725 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.710 24.010 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.720 24.030 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 24.000 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.733 24.028 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.725 24.017 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.730 24.100 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.760 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.400
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.400
66.400
Vàng SJC 5c
65.400
66.420
Vàng nhẫn 9999
52.400
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.200
53.000