Kinh tế Mỹ đối mặt với nguy cơ suy thoái

08:41 | 04/07/2022

Nỗi lo kinh tế Mỹ có thể rơi vào suy thoái đang lớn dần ở Phố Wall sau khi các số liệu kinh tế không mấy khả quan được công bố. Điều đó khiến nhiều nhà kinh tế hy vọng, Fed sẽ thận trọng hơn trong lộ trình tăng lãi suất sắp tới.

Nhiều dấu hiệu xấu

Lãi suất tăng nhanh và các điều kiện tài chính bị siết chặt đang làm dấy lên lo ngại kinh tế Mỹ có thể rơi vào một cuộc suy thoái.

Theo các nhà kinh tế, tăng trưởng việc làm sẽ chậm lại do chính sách thắt chặt lãi suất của Fed đã thắt chặt người sử dụng lao động và nền kinh tế. Điều đó có thể được thể hiện rõ trong bảng lương phi nông nghiệp tháng 6 sẽ được công bố mới đây. Theo dự báo của các nhà kinh tế, trong tháng 6 kinh tế Mỹ chỉ tạo thêm được 250.000 việc làm mới, thấp hơn nhiều con số 390.000 việc làm mới của tháng 5.

kinh te my doi mat voi nguy co suy thoai

“Việc làm sẽ chậm lại từ tháng 5, cho dù nó đạt đến 250.000 như mức dự báo của các chuyên gia hay hơn, thì luôn có sự biến động”, David Page - Trưởng bộ phận nghiên cứu kinh tế vĩ mô tại AXA Investment Managers cho biết. “Xu hướng sẽ thấp hơn và tôi không ngại đặt cược rằng nó sẽ ở mức 150.000 đến 200.000 vào đầu quý III và chắc chắn có thể thấp hơn vào cuối năm”. Page cũng cho biết, đã có sự chậm lại trong các dữ liệu kinh tế khác, bao gồm chi tiêu của người tiêu dùng, thu nhập.

Quả vậy, Báo cáo của Bộ Thương mại Mỹ được công bố giữa tuần trước cho thấy, chi tiêu của người tiêu dùng - vốn chiếm hơn hai phần ba các hoạt động kinh tế của Mỹ - chỉ tăng 0,2% trong tháng 5, mức tăng nhỏ nhất trong năm tháng. Trong khi kết quả cuộc khảo sát sản xuất tháng 6 của ISM, thành phần việc làm đã giảm tháng thứ ba liên tiếp xuống 47,3 (mức dưới 50 báo hiệu sự suy giảm).

Đó chính là lý do mà các nhà kinh tế của JPMorgan Chase đã cắt giảm dự báo tăng trưởng của kinh tế Mỹ xuống còn 1% trong quý thứ hai thay vì mức 2,5% như dự báo trước đó. Tăng trưởng quý III cũng được giảm xuống còn 1% từ mức 2%. Tuy nhiên các nhà kinh tế của JPMorgan Chase cho biết, tăng trưởng sẽ lên tới 1,5% trong 3 tháng cuối năm, nhờ sản xuất ô tô mạnh hơn và lạm phát thấp hơn.

Thậm chí thước đo GDPNow của Fed Atlanta - theo dõi dữ liệu kinh tế theo thời gian thực và điều chỉnh liên tục - cho thấy sản lượng quý II sẽ giảm 2,1%. Do kinh tế Mỹ đã giảm 1,6% trong quý đầu năm nên sự suy giảm trong quý thứ hai, nếu xảy ra, có nghĩa nó đã rơi vào suy thoái kỹ thuật.

Fed có thay đổi lộ trình tăng lãi suất?

Để kéo giảm lạm phát đang ở mức cao nhất trong hơn 40 năm tại Mỹ, Fed đã buộc phải thu lại chương trình mua tài sản và tăng nhanh lãi suất. Tính chung từ tháng 3 đến nay, Fed đã tăng lãi suất tới 150 điểm cơ bản. Gần đây nhất trong phiên họp ngày 15/6 vừa qua, Fed đã tăng lãi suất tới 75 điểm cơ bản, mức tăng lớn nhất kể từ năm 1994, đồng thời để ngỏ khả năng sẽ có các đợt tăng tương tự từ nay đến cuối năm.

Thế nhưng với diễn biến kinh tế hiện tại, David Page hy vọng Fed có thể chỉ nâng lãi suất thêm 50 điểm cơ bản, thấp hơn dự kiến. Tuy nhiên nhiều chuyên gia kinh tế lại không đồng tình như vậy nhất là sau những phát biểu mạnh mẽ của Chủ tịch Fed Jerome Powell rằng, Fed sẽ làm những gì họ cần với việc tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát.

Phát biểu tại Hội nghị thường niên của ECB mới đây, Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết, Fed có đầy đủ các công cụ để giải quyết vấn đề lạm phát và quyết tâm sử dụng chúng. Ông cũng cam kết sẽ thành công trong việc kéo lạm phát xuống mức mục tiêu 2%. Mặc dù ông cho rằng, “quá trình này rất có thể sẽ kéo theo một số nỗi đau”, nhưng theo ông “nỗi đau tồi tệ hơn sẽ là không giải quyết được tình trạng lạm phát cao này và để nó trở nên dai dẳng”.

Theo các chuyên gia kinh tế, ngay cả khi tăng trưởng việc làm tháng 6 tại Mỹ chỉ ở mức 250.000, thậm chí tiếp tục giảm xuống mức 150.000 hay 200.000 thì những con số đó vẫn rất mạnh, rất gần với tốc độ tăng trưởng việc làm thời kỳ trước đại dịch. Điều đó có thể khiến Fed thêm tự tin với lộ trình tăng lãi suất của mình.

Hiện giới chuyên môn vẫn dự báo Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản nữa tại cuộc họp chính sách tháng 7, cho dù lộ trình sắp tới là ít chắc chắn hơn bởi rõ ràng là Fed cũng không thể bỏ qua sự chậm lại của nền kinh tế.

Theo Sam Stovall - Chiến lược gia đầu tư tại CFRA, nếu dữ liệu việc làm vẫn mạnh mẽ và các quan chức Fed thực hiện quyết liệt như những gì họ nói, điều đó sẽ tiếp tục gây áp lực lên thị trường.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.245 23.545 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.280 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.259 23.545 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
67.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
67.100
Vàng SJC 5c
66.100
67.120
Vàng nhẫn 9999
52.150
53.050
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.650