Kinh tế Mỹ: Nguy cơ suy thoái gia tăng

07:54 | 01/08/2022

Báo cáo hôm 28/7 của Bộ Lao động Mỹ cho biết, nền kinh tế lớn nhất thế giới suy giảm 0,9% trong quý hai vừa qua so với cùng kỳ năm trước. Trong quý đầu năm, kinh tế Mỹ cũng đã giảm 1,6%. Như vậy đây là quý thứ hai liên tiếp kinh tế Mỹ bị thu hẹp.

Thế nhưng điều đó có thể chưa làm thay đổi quan điểm thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát của Fed khi mà Chủ tịch Fed Jerome Powell vẫn cho rằng, một nền kinh tế đang có thêm hàng trăm nghìn việc làm mỗi tháng sẽ không suy thoái. Phát biểu sau quyết định tăng lãi suất hôm 27/7, ông Powell cho biết, Fed muốn thấy nhu cầu ở dưới mức tiềm năng trong một thời gian để tạo cơ hội cho lạm phát giảm xuống.

Tuy nhiên theo các chuyên gia kinh tế, bức tranh kinh tế hiện tại có thể khiến Fed phải thận trọng hơn khi mà các quyết định tăng lãi suất của Fed cũng phần nào đóng góp vào sự suy giảm hiện tại của kinh tế Mỹ. Chẳng hạn có thể thấy rõ nhất tác động của việc tăng lãi suất vừa qua trong lĩnh vực nhà ở, lĩnh vực vốn nhạy cảm với lãi suất.

kinh te my nguy co suy thoai gia tang
Chi tiêu tiêu dùng bình quân ảnh hưởng bởi lạm phát và lãi suất cao

Ngay cả trước khi Fed bắt đầu tăng lãi suất vào tháng 3, lãi suất thế chấp đã bắt đầu tăng và tăng gần gấp đôi kể từ cuối năm ngoái lên gần 6%. Đầu tư vào nhà ở giảm tới 14% trong quý hai là mức giảm lớn nhất trong 12 năm, ngoại trừ khoảng thời gian đình trệ do kinh tế Mỹ bị đóng cửa để ngăn chặn dịch Covid-19 trong quý II/2020. Doanh số bán nhà đang giảm với doanh số bán nhà đã sở hữu giảm tháng thứ năm liên tiếp trong tháng 6; doanh số bán nhà mới cũng sụt giảm.

Chi tiêu của người tiêu dùng, vốn chiếm khoảng 2/3 nền kinh tế Mỹ, cũng giảm tốc độ tăng trưởng hàng năm xuống còn 1% trong quý hai, từ mức 1,8% trong quý đầu năm. Trong đó chi tiêu cho hàng hóa giảm tới 4,4%, tuy nhiên theo các nhà kinh tế, mức giảm này chủ yếu do tác động của lạm phát cao chứ không phải do lãi suất tăng.

Ví dụ, trong quý hai về danh nghĩa người tiêu dùng đã chi nhiều hơn gần 6 tỷ USD cho thực phẩm tiêu dùng tại nhà so với quý đầu tiên, nhưng lại mang về nhà ít thực phẩm hơn. Chẳng hạn tiêu dùng lương thực được điều chỉnh theo lạm phát giảm 33,5 tỷ USD, khiến lương thực trở thành lực cản lớn nhất đối với kinh tế Mỹ trong gần nửa thế kỷ qua.

Mặc dù chi tiêu cho dịch vụ tăng 4,1% khi mọi người bắt đầu chi tiêu cho du lịch và nhà hàng sau khi dịch bệnh được kiểm soát. Tuy nhiên theo nhà kinh tế Rubeela Farooqi của High Frequency Economics, không rõ điều đó sẽ kéo dài bao lâu khi mà Fed đang tăng nhanh lãi suất.

Trong khi đó chi tiêu kinh doanh giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu là do sự sụt giảm chi tiêu của hầu hết các ngành kinh tế. “Nền kinh tế rõ ràng đang mất đà”, nhà kinh tế Michael Feroli của JP Morgan viết và lưu ý sự sụt giảm trong chi tiêu kinh doanh cùng với sự sụt giảm trong chi tiêu tiêu dùng cho hàng hóa và đầu tư vào nhà ở. “Ít nhất thì Fed có một cái gì đó để thể hiện cho việc tăng lãi suất của mình”.

Báo cáo của Bộ Thương mại Mỹ cũng phản ánh sự chậm lại trong tích lũy hàng tồn kho và sự đóng góp của thương mại vào tăng trưởng, mặc dù theo các nhà kinh tế cả hai yếu tố này một phần cũng do chuỗi cung ứng bị gián đoạn vì đại dịch. Nhưng đối với một số người, chúng cũng gợi nên những lo lắng về một cuộc suy thoái sắp xảy ra.

“(Sự chậm lại của hàng tồn kho) cho bạn biết rằng các tập đoàn đang rất lo ngại và đang giảm chi tiêu của họ. Đó là một phần của bầu không khí suy thoái”, Peter Cardillo - Nhà kinh tế trưởng tại Spartan Capital Securities cho biết.

Trong khi Art Hogan – Chiến lược gia thị trường trưởng của B. Riley ở New York cho rằng, sự thu hẹp của kinh tế Mỹ không gây nhiều bất ngờ khi mà các bằng chứng hàng ngay đã cho thấy có những bộ phận của nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn, một phần do chu kỳ kinh doanh, một phần do lãi suất tăng cao.

Niềm an ủi lớn nhất đối với Fed có lẽ là lạm phát - được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng cá nhân cốt lõi - đã giảm xuống 4,4% trong quý thứ hai từ mức 5,2% trong quý đầu tiên. Mặc dù vậy nó hiện vẫn cao hơn gấp đôi so với mức mục tiêu 2% của Fed và như Powell đã nói nhiều lần vào thứ Tư, Fed cần bằng chứng rõ ràng hơn về việc lạm phát sẽ giảm xuống trước khi nới lỏng các biện phát thắt chặt hiện tại.

Theo Hussan Mehdi - Chiến lược gia về vĩ mô và đầu tư của Công ty quản lý tài sản HSBC, mặc dù nền kinh tế Mỹ đã bước vào một cuộc suy thoái kỹ thuật, song các hoạt động cơ bản vẫn được thúc đẩy bởi thị trường lao động mạnh mẽ và sự luân chuyển sang chi tiêu cho dịch vụ. Tuy nhiên theo nhà kinh tế này, đà tăng trưởng chắc chắn đang suy yếu trong bối cảnh những cơn gió ngược như thắt chặt chính sách nhanh chóng, thu nhập thực tế bị siết chặt đáng kể và niềm tin giảm sút.

“Chúng ta nhìn thấy con đường gập ghềnh phía trước khi Fed nỗ lực tái cân bằng cung và cầu trong nền kinh tế và nguy cơ suy thoái gia tăng vào nửa cuối năm 2023 khi lãi suất đã đi vào lãnh thổ hạn chế (các hoạt động kinh tế)”, ông nói.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.710 24.020 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.725 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.710 24.010 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.720 24.030 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 24.000 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.733 24.028 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.725 24.017 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.730 24.100 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.760 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.400
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.400
66.400
Vàng SJC 5c
65.400
66.420
Vàng nhẫn 9999
52.400
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.200
53.000