Kinh tế thế giới vẫn “loay hoay” phục hồi

10:03 | 09/09/2020

Theo nhiều chuyên gia phân tích tại Amundi Asset Management, các nền kinh tế trên toàn cầu phải mất một thời gian lâu nữa mới có thể phục hồi trở lại trạng thái trước đại dịch, mặc dù giai đoạn tồi tệ nhất của cú sốc kinh tế dường như đã qua.

Hiện tại, hoạt động kinh tế toàn cầu đang tiến triển theo xu hướng dần dần đi lên. Trong thời kỳ dịch bệnh, đây là một tín hiệu hết sức đáng mừng. Mức đáy đã qua, nhưng các nền kinh tế dường như vẫn chưa thoát ra khỏi nó đủ mạnh để đảm bảo sự phục hồi được nhanh chóng hơn.

Amundi Asset Management tuần qua đã hạ mức dự báo kinh tế cho năm 2020 và dự kiến GDP toàn cầu sẽ giảm từ 3,5% đến 4,7% so với dự báo trước đó là chỉ giảm từ 2,9% đến 4,2%. Vì vậy, dự báo tăng trưởng GDP cho năm 2021 sẽ được “điều chỉnh tăng nhẹ” từ 4,1% lên 5,1% thay vì 4,4% đến 5,7%, trước đó.

Các nền kinh tế trên toàn cầu phải mất một thời gian lâu nữa mới có thể phục hồi

Nền kinh tế các nước nói chung sau cú sốc đã có tín hiệu hoạt động trở lại mạnh mẽ, nhưng bắt đầu vào khoảng tháng 5 và đầu tháng 6 thì tốc độ phục hồi dường như đã chậm lại và ổn định hơn từ cuối tháng 7 - 8, điều này đã được minh chứng trong các dữ liệu phân tích. Đường cong phục hồi hoạt động sản xuất, thị trường lao động và tâm lý người tiêu dùng đã bắt đầu đi ngang ở hầu hết mọi nơi trên thế giới.

Sau những thiệt hại đã thấy trong nửa đầu năm do đại dịch Covid-19, các nhà phân tích cảnh báo rằng sự phục hồi trong quý III dường như không đủ để đưa phần lớn các nền kinh tế sớm trở lại mức trước khủng hoảng. Nhưng Trung Quốc có thể là một trường hợp ngoại lệ khi nền kinh tế nước này sẽ có khả năng đạt mức tăng trưởng cao vào cuối năm 2020. Dữ liệu được công bố gần đây nhất của Trung Quốc đã cho thấy họ có sự phục hồi mạnh mẽ trong các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ.

Tuy nhiên, ở một số các nước khác trên thế giới, dữ liệu về GDP trong quý II đã cho thấy sức tàn phá khủng khiếp về kinh tế do đại dịch Covid-19 gây ra.

Chính phủ Australia đã chính thức thông báo rằng họ đang bước vào thời kỳ suy thoái trong quý lần thứ hai, với việc tuyên bố chấm dứt giai đoạn tăng trưởng kinh tế.

Các nền kinh tế lớn khác lại phải chứng kiến sự suy giảm tồi tệ hơn, với nền kinh tế Mỹ suy giảm ở mức kỷ lục là 32,9% trong quý II và GDP của Vương quốc Anh giảm 20,4%.

Minh Đức

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.710 24.020 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.725 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.710 24.010 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.720 24.030 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 24.000 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.733 24.028 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.725 24.017 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.730 24.100 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.760 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.400
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.400
66.400
Vàng SJC 5c
65.400
66.420
Vàng nhẫn 9999
52.400
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.200
53.000