Kinh tế tiếp tục chuyển biến tích cực

20:52 | 06/09/2022

Thông tin về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 vừa diễn ra trong ngày 6/9, tại họp báo thường kỳ sau phiên họp, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn cho biết, các thành viên Chính phủ đều thống nhất đánh giá, tình hình KT-XH tháng 8 và 8 tháng đầu năm tiếp tục chuyển biến tích cực, phục hồi mạnh.

kinh te tiep tuc chuyen bien tich cuc
Toàn cảnh buổi họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 8

Ổn định và khởi sắc trên hầu hết các lĩnh vực

Tại phiên họp này, các thành viên Chính phủ đã xem xét, thảo luận về: Tình hình KT-XH tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2022; đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH năm 2022; dự kiến kế hoạch phát triển KT-XH năm 2023; chương trình phục hồi và phát triển KT-XH; 3 chương trình mục tiêu quốc gia; tình hình giải ngân vốn đầu tư công; định hướng quy hoạch tổng thể quốc gia; công tác phòng chống dịch.

Theo báo cáo tại phiên họp của lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững, lạm phát được kiểm soát (CPI 8 tháng tăng 2,58%, tương đương cùng kỳ các năm 2018-2021), các cân đối lớn được bảo đảm.

Thị trường tiền tệ được duy trì ổn định với mặt bằng lãi suất, tỷ giá hợp lý; thu ngân sách 8 tháng ước đạt 85,6% dự toán, tạo dư địa điều hành chính sách tài khóa, hỗ trợ chính sách tiền tệ; vốn đầu tư thực hiện từ NSNN 8 tháng đạt trên 285,4 nghìn tỷ, bằng 51% kế hoạch, tăng 16,9% so với cùng kỳ; vốn FDI thực hiện 8 tháng đạt 12,8 tỷ USD tăng 10,5%, cao nhất từ năm 2018 đến nay; kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước 8 tháng tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước, xuất siêu 3,96 tỷ USD.

Hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục khởi sắc, phục hồi rất tích cực với nhiều ngành, lĩnh vực có xu hướng phục hồi tốt, bảo đảm nguồn cung tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường 8 tháng đạt gần 150.000 doanh nghiệp (gấp 1,43 lần số doanh nghiệp rời khỏi thị trường), tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước cho thấy niềm tin mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp vào ổn định vĩ mô và phục hồi kinh tế.

Một chi tiết đáng chú ý là trong khi vận tải hành khách mặc dù đã có nhiều khởi sắc nhưng sản lượng vận chuyển 8 tháng năm nay mới bằng 75,9% và luân chuyển bằng 74,1% so với cùng kỳ năm 2019, nhưng vận tải hàng hóa đã tăng 9,8% về vận chuyển và tăng 20% về luân chuyển so với cùng kỳ 8 tháng năm 2019. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thể cho rằng, nếu nhìn từ hoạt động vận tải, nền kinh tế đang chuyển mình và phát triển rất tốt.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho biết, lưu lượng vận tải trong dịp Quốc khánh 2/9 vừa qua cao nhất từ trước tới nay, cao hơn cùng kỳ năm 2019 là năm trước khi dịch COVID-19 bùng phát.

GDP quý III có thể đạt cao hơn quý II

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định: Những kết quả đạt được là nhờ nghiêm túc quán triệt, thực hiện đường lối lãnh đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó có các Nghị quyết của Quốc hội; sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự nỗ lực, cố gắng, linh hoạt của các cấp, các ngành, các địa phương; sự phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ, Quốc hội, các cơ quan trong hệ thống chính trị; sự đồng hành, ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân, sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế.

Điểm lại các kết quả KT-XH nổi bật trong 8 tháng vừa qua, Thủ tướng tin tưởng với kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm tốt, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao, hoạt động sản xuất kinh doanh ở hầu hết các lĩnh vực đều phục hồi mạnh và các động lực tăng trưởng được duy trì, tăng trưởng GDP quý III có thể đạt cao hơn quý II (quý II tăng 7,72%) nếu không có những biến động lớn.

Sau các hội nghị lớn của Chính phủ trong thời gian vừa qua, các loại hình thị trường từng bước phục hồi, được kiểm soát và phát triển theo hướng an toàn, cạnh tranh lành mạnh, đúng pháp luật, đúng bản chất. Tỷ lệ nợ công, nợ Chính phủ tiếp tục xu hướng giảm, dưới trần Quốc hội và Nghị quyết Đại hội Đảng XIII cho phép. Cụ thể, tỷ lệ nợ công/GDP năm 2020 là 55,9%; năm 2021 là 43,1%; năm 2022 dự kiến 42-43%. Tỷ lệ nợ Chính phủ/GDP năm 2020 là 49,9%; năm 2021 là 39,1%; dự kiến năm 2022 khoảng 40-41%.

Trong khi đó, nhiều vấn đề tồn đọng kéo dài, như các dự án kém hiệu quả được chỉ đạo giải quyết phù hợp, có kết quả, bước đầu khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế (như Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 đã hòa lưới điện Tổ máy số 2; xử lý, tháo gỡ vướng mắc đối với 3 Nhà máy đạm, Nhà máy Gang thép Thái Nguyên, Nhà máy Gang thép Lào Cai…); các vấn đề cấp bách được xử lý kịp thời, hiệu quả như xăng dầu, tỷ giá, giá cả các nguyên liệu đầu vào cho sản xuất; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh; các lĩnh vực văn hóa, xã hội được chú trọng, đời sống người dân được cải thiện và điều tra sơ bộ cho thấy, tỷ lệ hộ có thu nhập không đổi và tăng lên là 82,2%, trong khi số khách du lịch nội địa 8 tháng đã gần bằng cả năm 2019…

Đã giải ngân 55.000 tỷ đồng thuộc Chương trình phục hồi

Về triển khai Chương trình phục hồi và phát triển KT-XH, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết, sau gần 8 tháng thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP, Chính phủ, các Bộ, cơ quan, địa phương đã tiếp tục chủ động, nỗ lực xây dựng và thực hiện các nhiệm vụ được giao.

Tính đến ngày 2/9, giải ngân các chính sách hỗ trợ thuộc Chương trình sơ bộ đạt 55,5 nghìn tỷ đồng, trong đó: (i) Các chương trình cho vay ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội đạt 10.073 tỷ đồng; (ii) Hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động đạt 3.045 tỷ đồng cho gần 4,54 triệu lao động; (iii) Hỗ trợ 2% lãi suất đạt 13,5 tỷ đồng; (iv) Giảm thuế giá trị gia tăng, thuế môi trường đối với nhiên liệu bay, xăng đến ngày 26/8/2022 là 34.970 tỷ đồng; (v) Chi phí cơ hội hỗ trợ thông qua gia hạn thời gian nộp thuế và tiền thuê đất đến hết tháng 6/2022 là 7,4 nghìn tỷ đồng. Ngoài ra, gia hạn các loại thuế, tiền thuê đất là 52.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên, việc hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động thực hiện chưa được như kỳ vọng do chênh lệch số liệu khi xây dựng chính sách và triển khai thực tế, thủ tục còn phức tạp và chính quyền một số địa phương triển khai chưa quyết liệt; việc hỗ trợ lãi suất 2% còn hạn chế…

Về giải ngân vốn đầu tư công, theo báo cáo của Bộ Tài chính, ước giải ngân đến ngày 31/8 là hơn 212.227 tỷ đồng, đạt 39,15% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, tính về số tuyệt đối giải ngân thì cao hơn cùng kỳ năm 2021 là 24.942 tỷ đồng.

Cũng trong 8 tháng đầu năm, Chính phủ, Trung ương đã ban hành 84 văn bản quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia. Có 44/52 địa phương đã hoàn thành việc giao kế hoạch vốn thực hiện 3 Chương trình mục tiêu quốc gia cho các cơ quan, đơn vị, cấp trực thuộc.

Linh hoạt trong điều hành, tuyệt đối không chủ quan, lơ là

Bên cạnh những kết quả đạt được, các thành viên Chính phủ cho rằng, nước ta còn không ít khó khăn, thách thức phải đối mặt. Trong đó nổi lên là: Sức ép lạm phát cao. Tiến độ giải ngân đầu tư công chậm và chưa đạt mục tiêu. Thu hút vốn FDI chưa được như kỳ vọng. Đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và những người yếu thế. Diễn biến dịch bệnh còn rất phức tạp, còn tâm lý chủ quan trong thực hiện tiêm vaccine...

Kết luận phiên họp, Thủ tướng nhấn mạnh về định hướng thời gian tới, phải tiếp tục thực hiện đồng bộ, toàn diện, tổng thể, quyết liệt, hiệu quả các chủ trương, đường lối, các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; tuyệt đối không chủ quan, lơ là; tăng cường phân cấp, phân quyền, nắm tình hình, ứng phó diễn biến mới.

Thủ tướng yêu cầu cần tiếp tục thực hiện các trọng tâm chỉ đạo, điều hành đã được phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7 xác định, gồm "4 ổn định" (ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; ổn định các loại thị trường, giá cả hàng hóa, dịch vụ; ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội);

"3 tăng cường" (tăng cường nắm tình hình, phản ứng chính sách kịp thời, linh hoạt, hiệu quả; tăng cường bảo đảm an sinh xã hội và công tác y tế, nhất là y tế cơ sở, y tế dự phòng, tiêm phòng vaccine COVID-19; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nhất là trong hệ thống hành chính nhà nước);

"2 đẩy mạnh" (đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, phát triển doanh nghiệp và tạo công ăn việc làm; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và công tác quy hoạch); "1 tiết giảm" là tiết kiệm triệt để, giảm mọi khoản chi tiêu không cần thiết; và "1 kiên quyết không" là không điều hành giật cục, chuyển trạng thái đột ngột.

Về nhiệm vụ cụ thể, Thủ tướng yêu cầu làm tốt công tác phòng, chống dịch, đặc biệt là tiêm vaccine bảo đảm an toàn, khoa học, hiệu quả, khắc phục bằng được tình trạng thiếu thuốc, vật tư, trang thiết bị y tế.

Giữ vững nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; phối hợp hài hòa, hợp lý, đồng bộ, chặt chẽ, linh hoạt, hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Xây dựng các kịch bản dự báo về tăng trưởng, lạm phát, các cân đối lớn.

Đẩy mạnh thực hiện Chương trình phục hồi, giải ngân vốn đầu tư công và 3 Chương trình mục tiêu quốc gia. Trong đó, Thủ tướng nhấn mạnh phải cương quyết cắt giảm các thủ tục rườm rà, các dự án dàn trải; điều chuyển vốn từ những dự án chậm, kém hiệu quả sang các dự án bảo đảm tiến độ.

Người đứng đầu Chính phủ cũng yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục rà soát lại, và Thanh tra Chính phủ vào cuộc ngay để tháo gỡ các vướng mắc trong thực tế, xử lý nghiêm các vi phạm liên quan tới việc bảo đảm nguyên vật liệu cho các dự án hạ tầng chiến lược theo các nghị quyết, chỉ đạo của Chính phủ.

Tập trung thực hiện các nhiệm vụ quy hoạch của các ngành, các địa phương, nhất là các quy hoạch trình Trung ương, Quốc hội và Quy hoạch điện VIII theo đúng mục tiêu đề ra.

Thủ tướng yêu cầu bảo đảm chất lượng, tiến độ các đề án, nội dung trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hội nghị Trung ương 6, Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XV, trong đó có đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH, đầu tư công năm 2022, dự kiến kế hoạch phát triển KT-XH và đầu tư công năm 2023; định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050…

Tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi số, kinh tế số, chuyển đổi xanh, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo. Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành liên quan phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy bởi nguồn lực bắt nguồn từ tư duy, động lực bắt nguồn từ đổi mới, sức mạnh bắt nguồn từ lòng dân; đối thoại thẳng thắn và tranh thủ sự hỗ trợ của các đối tác phát triển trong quá trình chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi xanh.

Cùng với đó, Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, thúc đẩy tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam; đề xuất thành lập Ban chỉ đạo quốc gia về quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô.

Lê Đỗ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.624 24.854 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.654 24.854 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.635 24.855 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.854 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.854 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.698 24.854 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.692 24.852 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.854 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.854 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.600
Vàng SJC 5c
66.600
67.620
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750