Kinh tế toàn cầu đối mặt với nhiều rủi ro

09:00 | 01/06/2022

Theo các nhà kinh tế, mặc dù ít có khả năng sớm xảy ra một cuộc suy thoái, nhưng kinh tế toàn cầu đang phải gánh chịu chi phí gia tăng và tốc độ tăng trưởng chậm hơn. Đặc biệt nguy cơ suy thoái vẫn là hiện hữu khi các NHTW lớn đang đẩy nhanh tốc độ thắt chặt tiền tệ.

Đình lạm vẫn còn tiếp tục

“Sẽ không có chuyện đột ngột xảy ra sau khi đình lạm”, Simon Baptist - Nhà kinh tế trưởng của Economist Intelligence Unit cho biết khi đề cập đến một cuộc suy thoái bất ngờ sau một thời gian đình lạm.

Khi cuộc chiến ở Ukraine và đại dịch Covid-19 tiếp tục tàn phá chuỗi cung ứng, tình trạng đình lạm - được đánh dấu bởi tăng trưởng thấp và lạm phát cao - sẽ tồn tại “ít nhất trong 12 tháng tới”, Baptist nói. Theo ông, mặc dù giá hàng hóa sẽ bắt đầu giảm từ quý tới, nhưng sẽ vẫn cao hơn vĩnh viễn so với trước khi xảy ra cuộc xung đột Nga - Ukraine vì lý do đơn giản là nguồn cung nhiều mặt hàng của Nga sẽ bị cắt giảm vĩnh viễn.

kinh te toan cau doi mat voi nhieu rui ro 127853
Giá dầu tăng cao đang đẩy kinh tế toàn cầu đối diện với nhiều rủi ro

Tuy nhiên cho dù giá cả tăng cao đang làm tổn thương các hộ gia đình, song nhiều quốc gia trên thế giới vẫn đang duy trì được đà tăng trưởng và thị trường việc làm vẫn chưa sụp đổ. Hiện tỷ lệ thất nghiệp ở nhiều nền kinh tế đã giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ.

Vì vậy, người tiêu dùng - mặc dù rất cảnh giác về sự lặp lại của cuộc suy thoái toàn xuất phát từ cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn tại Mỹ hơn 10 năm trước - không cần phải qua lo lắng.

“Đối với hầu hết các nền kinh tế của châu Á, suy thoái là khá khó xảy ra, nếu chúng ta đang nói về các giai đoạn liên tiếp của tăng trưởng GDP âm”, Baptist nói. Nhà kinh tế này cũng cho biết, ngay cả khi nền kinh tế toàn cầu đứng trước nguy cơ suy thoái, nhiều người tiêu dùng vẫn có nhiều khoản tiết kiệm và tích trữ các đồ dùng bền vững trong gia đình. Vì vậy, ở một mức độ nào đó, nó sẽ không quá tệ như nhiều người lo ngại.

Nhà kinh tế trưởng Shane Oliver của AMP Capital cũng cho rằng không có dấu hiệu về một cuộc suy thoái kinh tế, ít nhất là trong 18 tháng nữa. “Các đường cong lợi suất hoặc khoảng cách giữa lợi suất trái phiếu dài hạn và lãi suất ngắn hạn vẫn chưa bị đảo ngược hoặc cảnh báo về một cuộc suy thoái và ngay cả khi như vậy thì mức trung bình dẫn đến suy thoái là 18 tháng”, ông cho biết.

Nguy cơ suy thoái vẫn hiện hữu

Tuy nhiên nguy cơ suy thoái là vẫn hiện hữu khi các NHTW trên toàn cầu đang thắt chặt lại chính sách tiền tệ, tăng lãi suất để chống lạm phát. Fed vừa quyết định tăng lãi suất thêm 50 điểm cơ bản vào đầu tháng này, mức tăng mạnh nhất trong hơn 22 năm, đồng thời phát đi tín hiệu sẽ tiếp tục tăng lãi suất để ứng phó với lạm phát. Biên bản cuộc họp chính sách tháng 5 của Fed vừa được công bố mới đây cho thấy, các nhà hoạch định chính sách của Fed đã sẵn sàng thực hiện tăng lãi suất 50 điểm thêm nhiều lần nữa.

Tuần trước, Ngân hàng Dự trữ New Zealand (RBNZ) cũng đã tăng lãi suất thêm 50 điểm cơ bản lên 2%. Đây là lần tăng lãi suất thứ năm liên tiếp với mức tăng tổng cộng là 175 điểm cơ bản kể từ khi RBNZ bắt đầu chu kỳ thắt chặt vào tháng 10/2021. Tuy nhiên cơ quan này vẫn phát đi tín hiệu sẽ còn tăng tiếp lãi suất để kiềm chế lạm phát. "Chúng tôi cam kết đảm bảo rằng lạm phát thực tế sẽ trở lại trong phạm vi mục tiêu của chúng tôi từ 1 đến 3%... Chúng tôi kiên quyết trong quyết tâm kiềm chế lạm phát", Thống đốc RBNZ Adrian Orr cho biết .

Theo các nhà kinh tế, luôn có rủi ro là việc kiểm soát lạm phát sẽ gây ra suy thoái. Lạm phát nổi tiếng là khó kiểm soát vì việc kiềm chế lạm phát bằng cách tăng lãi suất có thể dẫn đến tăng trưởng chậm lại. “Lạm phát ở mức cao càng lâu, thị trường đầu tư càng lo lắng rằng các NHTW sẽ không thể chế ngự nó mà không gây ra suy thoái. Như Chủ tịch Fed Jerome Powell đã chỉ ra, việc đưa lạm phát về 2% sẽ “bao gồm một số nỗi đau”, Oliver nói.

Mặc dù Vicky Redwood - Cố vấn kinh tế cấp cao của Capital Economics tin tưởng các NHTW sẽ có thể kiềm chế lạm phát mà không xảy ra suy thoái. Tuy nhiên theo bà, nếu việc kiểm soát kỳ vọng lạm phát và lạm phát khó khăn hơn dự kiến, hệ quả là lãi suất cần phải tăng cao hơn nữa, thì một cuộc suy thoái rất có thể sẽ xảy ra, thậm chí là một cuộc suy thoái theo kiểu sốc Volcker.

Cú sốc Volcker xảy ra khi Chủ tịch Fed Paul Volcker tăng lãi suất lên mức cao nhất trong lịch sử vào những năm 1980, trong nỗ lực chấm dứt lạm phát hai con số ở Mỹ.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.230 23.540 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.244 23.544 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.230 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.283 23.773 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.259 23.545 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.540 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.300 23.550 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.900
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.900
66.900
Vàng SJC 5c
65.900
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.400
53.300
Vàng nữ trang 9999
52.300
52.900