Kinh tế vĩ mô ổn định, nhưng các cân đối lớn tiềm ẩn rủi ro

09:41 | 11/05/2022

Sáng nay (11/5), Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã khai mạc phiên họp thứ 11 với việc nghe và cho ý kiến đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021; tình hình triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 được Chính phủ trình với nhiều giải pháp quan trọng…

kinh te vi mo on dinh nhung cac can doi lon tiem an rui ro
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu tại phiên họp.

Năm 2021, đạt và vượt 7/12 chỉ tiêu đề ra

Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2021 diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có. Đợt bùng phát dịch COVID-19 lần thứ 4 đã tác động lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội.

Với tinh thần coi sức khỏe, tính mạng của nhân dân là trên hết, trước hết, công tác phòng, chống dịch COVID-19 đã được Đảng, Nhà nước ưu tiên hàng đầu và huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, toàn quân và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Chúng ta đã thực hiện thành công chiến dịch tiêm chủng lớn nhất lịch sử; kịp thời điều động một lực lượng lớn quân đội, công an, y tế tham gia phòng, chống dịch; tổ chức nâng cao năng lực y tế; kịp thời triển khai ngay chương trình an sinh xã hội trên diện rộng, quy mô lớn hơn nhiều so với điều kiện bình thường.

Thành công trong công tác phòng chống dịch COVID-19 là điều kiện quan trọng để thực hiện chuyển hướng chiến lược sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch COVID-19” từ đầu quý IV/2022, từ đó giúp nền kinh tế dần phục hồi. Hầu hết các ngành, lĩnh vực trên đà tăng trưởng trở lại; hoạt động sản xuất, kinh doanh, đời sống người dân, người lao động dần ổn định và phát triển trong trạng thái bình thường mới.

Cũng theo báo cáo những thay đổi tích cực được kể đến là: chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân cả năm chỉ tăng 1,84%, thấp nhất kể từ năm 2016 (số đã báo cáo Quốc hội là dưới 4%); thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 1.568,4 nghìn tỷ đồng, tăng 202,9 nghìn tỷ đồng so với số đã báo cáo Quốc hội; bội chi ngân sách nhà nước thực hiện khoảng 286,5 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 3,41% GDP, thấp hơn dự toán là 4% (343,67 nghìn tỷ đồng); xuất siêu đạt hơn 4 tỷ USD (số đã báo cáo là nhập siêu khoảng 2 tỷ USD); thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) đạt kết quả ấn tượng với mức tăng trưởng cao 25,2%...

Một số chỉ tiêu không đạt được mức dự kiến đã báo cáo Quốc hội như: có 5/12 chỉ tiêu chủ yếu không đạt mục tiêu đề ra do có thêm chỉ tiêu tốc độ tăng năng suất lao động xã hội chỉ đạt 4,71% (số đã báo cáo Quốc hội là khoảng 4,4-4,9%), thấp hơn mục tiêu đề ra (4,8%); năng suất lao động đạt thấp do tăng trưởng GDP cả năm chỉ đạt 2,58%, thấp hơn mức phấn đấu đã báo cáo Quốc hội (3-3,5%).

Bên cạnh đó, khi dịch COVID-19 xảy ra, hàng loạt doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động, một bộ phận lao động nghỉ việc cũng như chuyển sang hình thức làm việc trực tuyến, làm việc luân phiên, giảm giờ làm đã ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất lao động của doanh nghiệp cũng như năng suất lao động chung của cả nước.

Chính phủ cho rằng, mặc dù còn có những chỉ tiêu không đạt mục tiêu đề ra, nhưng trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, thách thức, dịch bệnh, thiên tai diễn ra phức tạp, nghiêm trọng, để lại hậu quả rất nặng nề, với sự nỗ lực, phấn đấu bền bỉ, ý chí, bản lĩnh, sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, chúng ta đã đoàn kết một lòng, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đạt được nhiều kết quả, thành tích quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực, đạt và vượt 7/12 chỉ tiêu chủ yếu đề ra.

Các sự kiện lớn của đất nước diễn ra thành công tốt đẹp. Doanh nghiệp, người dân ủng hộ, đồng hành cùng các cơ quan Đảng, Nhà nước cho thấy sức mạnh của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường vượt qua khó khăn và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam, hội tụ ở niềm tin vững chắc của Nhân dân đối với với Đảng và Nhà nước, uy tín, vị thế của quốc gia trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên.

Kinh tế 4 tháng năm 2022 đạt nhiều kết quả tích cực

Sau khi phân tích tác động của tình hình thế giới và bối cảnh trong nước, Chính phủ cho biết, nhiều giải pháp đồng bộ đã được triển khai để bảo đảm nguồn cung, ổn định giá xăng dầu, lương thực, thực phẩm, duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, tỷ giá… Dịch bệnh cơ bản được kiểm soát là nền tảng để triển khai hiệu quả lộ trình mở cửa hoàn toàn du lịch quốc tế từ giữa tháng 3, mở cửa trường học, dịch vụ vui chơi, giải trí, văn hóa, nghệ thuật… Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng/2022 đã đạt nhiều kết quả tích cực.

Theo đó, 4 tháng đầu năm 2022, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá, GDP quý I ước tăng 5,03% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, khu vực dịch vụ tăng 4,58%, gấp gần 1,5 lần so với cùng kỳ các năm 2020-2021, qua đó tạo niềm tin vào chính sách phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và tạo đà tích cực cho quý II và cả năm.

Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm; kịp thời ban hành chính sách giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, giảm thuế giá trị gia tăng, góp phần giảm bớt áp lực tăng giá xăng dầu, thực phẩm, hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng cho doanh nghiệp, người dân.

Thị trường tài chính - tiền tệ cơ bản ổn định; duy trì mặt bằng lãi suất cho vay hợp lý, hỗ trợ tích cực nhu cầu tín dụng cho sản xuất, kinh doanh, đến ngày 25/4 tín dụng tăng 6,75% so với cuối năm 2021; kịp thời triển khai các giải pháp ổn định thị trường, tâm lý nhà đầu tư, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các vi phạm trên thị trường chứng khoán.

Thu ngân sách 4 tháng đầu năm đạt 46,6% dự toán, tăng 15,4% so với cùng kỳ, đáp ứng nhu cầu chi phòng chống dịch, an sinh xã hội, chăm lo đối tượng chính sách.

Xuất khẩu phục hồi mạnh mẽ, tính chung 4 tháng đầu năm tăng 16,4% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng 21,6%, gấp gần 1,5 lần tốc độ tăng của khu vực FDI (14,7%). Nền kinh tế xuất siêu 2,53 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm (cùng kỳ năm 2021 xuất siêu 1,5 tỷ USD).

Vốn FDI đăng ký tăng thêm và góp vốn, mua cổ phần 4 tháng đầu năm tăng gấp 1,9 lần so với cùng kỳ năm 2021; FDI thực hiện tăng 7,6%, phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư nước ngoài vào sự phục hồi tăng trưởng của nước ta.

Bên cạnh đó, tình hình doanh nghiệp rất tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 4 lần đầu tiên vượt mốc 15 nghìn doanh nghiệp. Tính chung 4 tháng, nước ta có hơn 80,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, cao nhất cùng kỳ từ trước đến nay.

Chính phủ đã tập trung đẩy nhanh tiến độ, đưa vào khai thác, sử dụng nhiều công trình cơ sở hạ tầng trọng điểm. Tập trung xử lý một số vấn đề tồn đọng, kéo dài, các dự án, doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả; qua đó góp phần tháo gỡ rào cản, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của nền kinh tế…

Vẫn tiềm ẩn nhiều khó khăn

Mặc dù đạt được kết quả tích cực, tuy nhiên Chính phủ cũng thẳng thắn nhìn nhận việc ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Giá dầu tăng cao từ cuối tháng 2 tác động dây chuyền lên giá cước vận tải, chi phí sản xuất, logistics, giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu… trong khi công tác điều hành giá xăng dầu còn khó khăn. Chỉ số CPI tháng 4 tăng 2,09% so với cuối năm 2021, gần gấp 2 lần cùng kỳ các năm 2018-2021, tạo áp lực lớn lên điều hành ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát cả năm 2022, làm giảm hiệu quả các chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Rủi ro tín dụng, nguy cơ nợ xấu là vấn đề cần tiếp tục được quan tâm, theo dõi sát sao để có thể kịp thời xử lý.

Tỷ lệ giải ngân kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước 4 tháng đầu năm đạt 18,48% kế hoạch được giao, tương đương cùng kỳ năm 2021, trong đó vốn trong nước đạt 19,57%; tuy nhiên vẫn còn 17 bộ, cơ quan trung ương chưa giải ngân kế hoạch đầu tư vốn năm 2022.

Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất, kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục đối mặt với chi phí đầu vào, thức ăn chăn nuôi tăng cao; khai thác thủy sản gặp khó khăn do giá xăng dầu tăng cao, nguy cơ thiếu hụt nguồn cung phục vụ chế biến, xuất khẩu. Thương mại, dịch vụ tuy có dấu hiệu phục hồi nhưng còn nhiều khó khăn.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm mới tăng tăng 6,5% so với cùng kỳ (loại trừ yếu tố giá chỉ tăng 4,3%, cùng kỳ năm 2021 tăng 7,2%); vận tải hành khách mặc dù phục hồi trở lại trong tháng 4, nhưng tính chung 4 tháng vẫn giảm 6,3%; vận tải hàng hóa 4 tháng chỉ tăng 4,8% (cùng kỳ năm 2021 tăng 11,2%).

Dịch bệnh còn tiềm ẩn diễn biến phức tạp; ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe, tâm lý người dân, nhất là các đối tượng dễ bị tổn thương, trẻ em; cần tiếp tục nghiên cứu, có biện pháp chữa trị, phòng ngừa dịch bệnh quay trở lại.

Tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Để phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu Quốc hội đã giao với trọng tâm là bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tăng cường hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, thúc đẩy phục hồi phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ quyết tâm chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung thực hiện quyết liệt, hiệu quả nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra.

Theo đó, Chính phủ sẽ tập trung, ưu tiên toàn lực để triển khai đồng bộ, hiệu quả Chương trình phòng chống dịch COVID-19 (2022-2023); tổ chức tiêm vắc-xin hiệu quả cho trẻ em từ 5-12 tuổi ngay từ đầu tháng 4; chuyển giao công nghệ, nghiên cứu, sản xuất vắc-xin, thuốc điều trị trong nước; bảo đảm nguồn cung, tiếp tục tăng cường công tác quản lý giá thuốc, trang thiết bị y tế phục vụ phòng, chống dịch.

Điều hành đồng bộ, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ các công cụ chính sách tiền tệ, tài khóa và các chính sách khác để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, duy trì mức lãi suất cho vay hợp lý, hỗ trợ tích cực cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường quản lý, giám sát thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính.

Theo dõi chặt chẽ thị trường, giá cả hàng hóa để có chính sách, giải pháp kịp thời bảo đảm cân đối cung - cầu, điều hành, bình ổn giá phù hợp; bảo đảm cung ứng, lưu thông hàng hóa và các cân đối lớn của nền kinh tế, nhất là cân đối về điện, xăng dầu; thúc đẩy thương mại, xuất nhập khẩu bền vững.

Triển khai thực hiện nhanh, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả hơn nữa các nhiệm vụ, giải pháp đề ra tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ; tập trung triển khai quyết liệt các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2022; xác định đây là những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, là một trong các tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại cuối năm đối với tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu...

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850