Lãi vay sẽ tiếp tục giảm

08:21 | 24/09/2020

Nhiều ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất huy động trong tuần qua, lần giảm thứ hai trong tháng 9 và là một dấu hiệu tích cực cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay sẽ ở mức thấp trong những tháng cuối năm.

Lãi suất tiền gửi dưới 6 tháng phổ biến ở mức 3,7 - 4,1%/năm
Hài lòng với lãi suất thấp là 'nguy hiểm'
Ảnh minh họa

Lãi suất huy động giảm

Vietcombank giảm lãi suất huy động kỳ hạn 1 và 2 tháng thêm 0,2%/năm về mức 3,3%/năm; lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng là 3,6%/năm, đều thấp hơn nhiều so với mức trần lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng là 4,25%/năm. Đáng chú ý là lãi suất huy động kỳ hạn 6 và 9 tháng của ngân hàng này chỉ còn xoay quanh mức 4,2% và 4,3%/năm; các kỳ hạn dài từ 12, 24, 36 tháng giữ nguyên mức lãi suất thời điểm trước tháng 9 lần lượt là 6%/năm, 6,1%/năm, 5,8%/năm.

Eximbank cũng vừa đưa ra biểu lãi suất huy động mới, trong đó giảm 0,1%/năm đối với các kỳ hạn 15, 18 tháng về tương ứng là 6,6%/năm; 6,4%/năm; thậm chí mức lãi suất huy động kỳ hạn 36 tháng của ngân hàng này được giảm 0,2%/năm về 6,3%/năm. 

HDBank cũng giảm mạnh lãi suất huy huy động đối với các giao dịch gửi tại quầy để khuyến khích người dân có tiền gửi tiết kiệm giao dịch trên App HDBank nhằm tiết giảm chi phí huy động vốn. Theo đó lãi suất huy động kỳ hạn từ 6-11 tháng của ngân hàng này lùi về mức 5,8%/năm; lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng, nếu khách hàng gửi dưới 100 tỷ đồng, cũng giảm về mức 6,4%/năm; các kỳ hạn 15 và 36 tháng giảm xuống lần lượt 6,1%/năm, 6,5%/năm.

Lãi suất huy động của Nam A Bank cũng giảm ở một số kỳ hạn 6 tháng lãi suất ở mức 6,3%/năm, ngang với mức lãi suất lĩnh lãi hàng quý của SCB. Chỉ có những ngân hàng quy mô nhỏ như SCB, NCB, PVCombank… lãi suất huy động các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên vẫn ở mức cao so với mặt bằng trên thị trường, nhất là những khoản huy động kỳ hạn trên 12 tháng đang áp dụng lãi suất trên 7%/năm.

Nhìn chung mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường đang trên đà giảm mạnh trong mấy tháng qua. Nhưng các NHTM lại thiết kế ra những sản phẩm như các gói tiết kiệm dài hạn có quay số trúng thưởng, tặng quà… Tuy nhiên, các gói tiết kiệm có lãi suất cao và các lợi ích gia tăng thường không thu hút nhiều người chọn do sản phẩm không linh hoạt trong việc rút vốn như các hình thức lãi suất tiết kiệm thông thường.  

Đáng kể là các sản phẩm tiết kiệm online gần đây đang thu hút nhiều người dân gửi tiền săn lãi suất cao và các tiện ích mở thẻ miễn phí trên các ứng dụng ngân hàng điện tử. Nhiều ngân hàng muốn giữ chân khách hàng còn liên hệ với khách hàng thường xuyên gửi tiết kiệm chuyển đổi sổ tiết kiệm sang tài khoản tiết kiệm online để người có tiền hưởng thêm lãi suất. 

Lãi suất cho vay dưới 10%/năm

Theo một chuyên gia ngân hàng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc các ngân hàng tiếp tục giảm thêm lãi suất huy động. Thứ nhất hiện thanh khoản của hệ thống đang rất dồi dào, trong khi tín dụng tăng chậm do nhu cầu tín dụng sụt giảm mạnh vì đại dịch Covid-19. Thứ hai, việc NHNN ban hành Thông tư 08/2020/TT-NHNN sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 22/2019/TT-NHNN theo hướng lùi thời hạn giảm tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn thêm 1 năm đã làm giảm áp lực huy động vốn cho các ngân hàng. 

Lãi suất huy động giảm sâu là điều kiện để các ngân hàng giảm thêm lãi suất cho vay để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp cũng như thúc đẩy tín dụng những tháng cuối năm. Theo đó, lãi suất cho vay mua nhà để ở của các TCTD đối với các cá nhân chứng minh thu nhập bằng tiền công, thang bảng lương hiện ở mức 6-8%/năm trong 6 tháng đầu sau khi giải ngân.

Một số ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV… đang áp dụng lãi suất trên dưới 7%/năm đối với 12 tháng đầu đặc biệt sẽ có chính sách giảm từ 0,1-0,2% lãi suất cho những khách vay có tài khoản, hoặc sử dụng các dịch vụ khép kín của ngân hàng. Sau 6 hoặc 12 tháng ưu đãi lãi suất các ngân hàng này áp dụng lãi suất huy động 12 tháng cộng thêm 3,5% ra lãi suất cho vay giai đoạn tiếp theo nhưng không quá 10,5%/năm. Các NHTMCP ngoài nhà nước lãi suất cho vay mua nhà có lãi suất cao hơn so với các NHTM có vốn Nhà nước chi phối khoảng 1-2%/năm.

Đáng chú ý theo ghi nhận của phóng viên, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các phương án sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tại Agrribank hiện đã giảm xuống dưới mức 4%/năm; còn ở một số ngân hàng khác dao động quanh mức 5%/năm. Nếu doanh nghiệp cho ngân hàng quản lý dòng tiền và sử dụng các dịch vụ khép kín của ngân hàng, lãi suất cho vay vốn trung dài hạn quanh mức 8-9%/năm đối với những phương án đầu tư có hiệu quả.

Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, lãi suất huy động giảm đã tạo điều kiện chi phí vốn vay rẻ cho doanh nghiệp đi vay. Với diễn biến lãi suất liên tục giảm trong hệ thống ngân hàng thời gian qua, các yếu tố giá ngành tài chính điều hành hiệu quả trong những tháng cuối năm thì khả năng kiểm soát lạm phát dưới 4% năm và ổn định kinh tế vĩ mô trong năm 2020 của Chính phủ đang tiến gần về đích.

Theo đó, những tháng cuối năm các doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh trở lại đang có cơ hội vay vốn lãi suất thấp nhất trong 10 năm gần đây và trong năm sau lãi suất cho vay cũng khó có thể cao hơn trong năm nay nếu kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định. 

Tuy nhiên, khủng hoảng dịch bệnh đã làm gián đoạn cung cầu nên các doanh nghiệp càng phải chứng minh được phương án tiêu thụ sản phẩm hiệu quả mới dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng.

Minh Phương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,10
5,80
5,90
BIDV
0,10
-
-
-
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,30
3,30
3,60
4,20
4,20
5,80
5,80
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,60
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,50
3,60
3,70
5,20
5,40
6,00
6,30
Techcombank
0,10
-
-
-
2,55
2,65
2,75
4,30
4,10
4,80
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,83
3,83
3,83
6,55
6,80
7,15
7,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.042 23.272 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.260 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.076 23..288 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.069 23.269 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.090 23.270 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.120 23.250 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.800
56.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.800
56.300
Vàng SJC 5c
55.800
56.320
Vàng nhẫn 9999
53.370
53.870
Vàng nữ trang 9999
52.870
53.570