Lạm phát tác động đến chính sách của ECB

07:34 | 24/11/2021

Bà Christine Lagarde, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) chia sẻ trong bài phát biểu trước Đại hội Ngân hàng châu Âu Frankfurt vừa qua, các điều kiện để tăng lãi suất rất khó được thỏa mãn trong năm tới và đồng thời đưa ra cảnh báo rằng ECB “không nên vội vàng thắt chặt tiền tệ sớm”.

Hiện tại, giá trị của đồng Euro so với đồng USD đã giảm 0,5%, 1,1301 USD/Euro. Tâm lý nhà đầu tư đang bị đè nặng khi cổ phiếu ngân hàng giảm khoảng 2% cộng thêm sự bùng phát trở lại của dịch Covid-19 ở châu Âu. Theo ý kiến của các chuyên gia kinh tế, đây là nguyên do chính để các ngân hàng trung ương khu vực đồng Euro quyết định giữ nguyên lãi suất và lập trường chính sách tiền tệ của họ và là một động thái tìm cách hạ nhiệt kỳ vọng về việc tăng lãi suất vào năm tới bất chấp áp lực lạm phát đang diễn ra.

lam phat tac dong den chinh sach cua ecb

Tỷ lệ lạm phát cao có khả năng tăng thêm cho đến cuối năm. Trước đó đã có thông tin xác nhận rằng lạm phát của khu vực đồng Euro đã đạt 4,1% so với cùng kỳ và cao hơn gấp đôi so với mục tiêu của ECB. Vừa qua, ECB đã ra thông báo sẽ mua ít trái phiếu hơn do giá tiêu dùng tăng cao. Điều này bắt đầu quá trình từ thu hẹp gói kích thích đã được ban hành trong thời kỳ đại dịch khổng lồ. Thời điểm đó, lạm phát trong khu vực đồng Euro đạt 3,4% (cao nhất trong 13 năm qua). Tuy nhiên, các hành động của ECB chỉ là sự điều chỉnh lại, mà không phải là giảm bớt, bởi các nhà lãnh đạo ECB cho rằng lạm phát cao hơn chỉ là tạm thời và sẽ giảm dần trong năm 2022.

Trong diễn biến giá năng lượng tăng cao đang đẩy lạm phát lên dẫn đến lạm phát sẽ mất nhiều thời gian để giảm hơn so với dự kiến. Các quan chức của ECB kỳ vọng những yếu tố này sẽ giảm bớt trong năm tới và hy vọng lạm phát trong kỳ hạn trung bình sẽ xuống dưới mục tiêu 2%.

Chương trình kích cầu Covid-19 của ECB (Chương trình Mua hàng khẩn cấp trong đại dịch) được dự kiến sẽ kết thúc vào đầu tháng 3/2022. Vì vậy, nhiều nhà phân tích đang mong đợi một sự điều chỉnh lại các biện pháp kích thích của ngân hàng trước đó. Nhiều khả năng ECB có thể sẽ tiếp tục mua trái phiếu chính phủ và đang xem xét một cách nghiêm túc mối lo ngại về lạm phát gia tăng để “kiên trì” trong chính sách tiền tệ của mình.

Bà Lagarde nhấn mạnh, chính sách thắt chặt quá sớm sẽ chỉ làm cho thu nhập hộ gia đình bị siết chặt hơn và việc thắt chặt này sẽ không giải quyết được "nguyên nhân gốc rễ" của lạm phát do giá năng lượng đang rất nóng trên toàn cầu và sự tắc nghẽn về nguồn cung không thể được khắc phục bằng chính sách tiền tệ của ECB.

Hải Thanh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850