Lạm phát tại Mỹ có thể tăng tiếp trước khi dịu lại

09:53 | 19/07/2021

Phát biểu trong cuộc phỏng vấn với CNBC, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Janet Yellen cho rằng, lạm phát tại Mỹ có thể tiếp tục tăng trong vài tháng nữa. Tuy nhiên bà cũng hy vọng lạm phát sẽ giảm bớt theo thời gian.

“Chúng ta sẽ có thêm vài tháng lạm phát tăng tốc nữa”, bà Yellen nói. “Vì vậy, tôi không nói rằng đây là hiện tượng kéo dài một tháng. Nhưng tôi nghĩ trong trung hạn, chúng ta sẽ thấy lạm phát giảm trở lại mức bình thường. Nhưng, tất nhiên, chúng tôi phải theo dõi cẩn thận”.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tại Mỹ đã tăng 5,4% trong tháng 6, tốc độ nhanh nhất trong gần 13 năm. Nếu không tính lương thực và năng lượng, CPI lõi tăng 4,5%, cũng là mức tăng nhanh nhất trong gần 30 năm. Giá mà các nhà sản xuất hàng hóa và dịch vụ nhận được cho các sản phẩm của họ đã tăng 7,3%, một kỷ lục từ năm 2010. Trong khi đó, giá nhà ở tại các thành phố lớn nhất của Mỹ đã tăng gần 15%, theo tính toán gần đây nhất của S&P CoreLogic Case-Shiller.

lam phat tai my co the tang tiep truoc khi diu lai
Ảnh minh họa

Tất cả những điều đó đã làm tăng thêm lo ngại rằng áp lực lạm phát có thể ngăn cản sự phục hồi tích cực của nền kinh tế Mỹ, đặc biệt sự leo thang của giá nhà đất càng làm gia tăng lo ngại về bong bóng tài sản.

“Tuy vậy, tôi không nghĩ rằng chúng ta đang nhìn thấy những loại nguy hiểm tương tự như chúng ta đã thấy trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Đó là một hiện tượng rất khác”, Bộ trưởng Tài chính Mỹ nhìn nhận. “Nhưng tôi lo lắng về khả năng chi trả và những áp lực mà giá nhà cao hơn sẽ tạo ra cho những gia đình là người mua nhà lần đầu hoặc những gia đình có thu nhập thấp”.

Mặc dù các cuộc khảo sát được thực hiện với người tiêu dùng chỉ ra kỳ vọng về lạm phát cao hơn trong thời gian tới; tuy nhiên theo bà Janet Yellen, các thước đo dựa trên thị trường cho thấy giá cả sẽ hạ nhiệt trong dài hạn.

Bất chấp lo ngại lạm phát, lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm, được coi là chuẩn mực cho tăng trưởng, đã giảm xuống dưới 1,3% sau khi tăng 1 điểm phần trăm lên khoảng 1,75% trong thời gian từ tháng 10/2020 đến tháng 3/2021. Các thước đo khác, chẳng hạn như thước đo thị trường được sử dụng rộng rãi về chênh lệch lợi suất giữa trái phiếu kho bạc 5 và 10 năm với trái phiếu lạm phát có cùng thời hạn, đã giảm xuống từ mức cao nhất 13 năm được thấy vào tháng Năm.

Theo Bộ trưởng tài chính Mỹ, những kỳ vọng đó thực sự là động lực của hành vi định giá. Vì vậy cần phải được theo dõi hết sức cẩn trọng. Tuy nhiên bà tin tưởng lạm phát sẽ lắng xuống. Cụ thể, về lợi suất trái phiếu kho bạc, bà cho biết “thị trường đang bày tỏ quan điểm của mình rằng lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát”.

Những bình luận của Bộ trưởng Tài chính Mỹ được đưa ra ngay khi Chủ tịch Fed Jerome Powell phải đối mặt với sự phản đối từ các nhà lập pháp Hạ viện và Thượng viện về việc liệu chính sách tiền tệ siêu nới lỏng của Fed và sự chi tiêu mạnh mẽ của Quốc hội có nguy cơ dẫn đến lạm phát tăng cao hay không.

Bảng cân đối tài sản của Fed đã tăng lên trên 8 nghìn tỷ USD trong đại dịch, trong khi Quốc hội đang xem xét năm thứ hai liên tiếp thâm hụt ngân sách 3 nghìn tỷ USD. Mặc dù cho rằng Fed “không thoải mái” với tỷ lệ lạm phát hiện tại, nhưng Powell cũng hy vọng điều đó sẽ giảm bớt khi các yếu tố tác động nhất thời của đại dịch chấm dứt và các điều kiện trở lại bình thường.

Về phần mình, bà Yellen cho biết chi tiêu liên quan đến Kế hoạch Giải cứu người Mỹ do Nhà Trắng hậu thuẫn đang giúp nền kinh tế lớn nhất thế giới phục hồi. “Tôi nghĩ rằng chúng ta đang thấy nó có tác dụng như mong muốn và ngăn ngừa những tác động tiêu cực đến các hộ gia đình và tài chính của họ”, bà nói.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.640 22.870 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.670 22.870 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.648 22.868 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.670 22.850 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.670 22.850 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.665 22.910 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.655 22.865 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.670 22.850 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.690 22.850 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.450
57.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.450
57.100
Vàng SJC 5c
56.450
57.120
Vàng nhẫn 9999
50.300
51.200
Vàng nữ trang 9999
49.900
50.900