Lạm phát và giá thịt lợn

17:10 | 29/05/2020

CPI tháng 5/2020 giảm về mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020 và đây là một tin tốt. Nhưng chiếm quyền số tới 4,2% trong rổ hàng hóa CPI, nếu vẫn để giá thịt lợn tăng cao sẽ đe dọa mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô.

Tổng cục Thống kê vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 5 và 5 tháng đầu năm, trong đó cho biết, nhờ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và sự điều hành đồng bộ của các bộ ngành đã kéo được chỉ số giá tiêu dùng giảm 0,03% so với tháng trước, đồng thời giảm 1,24% so với tháng 12 năm trước - mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020.

lam pha va gia thit lon

Với diễn biến CPI giảm trong tháng 5, Tổng cục Thống kê nhắc đến vai trò quan trọng trong điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với quyết định giảm lãi suất điều hành và thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt. Đồng thời các Bộ, ngành và địa phương triển khai đồng bộ và sự chủ động điều hành giá xăng dầu của Liên Bộ Công Thương - Tài chính.

“CPI tháng 5/2020 giảm 0,03% so với tháng trước và chỉ tăng 2,40% so với cùng kỳ năm trước là tin tốt”, TS.Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính bình luận.

Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê cho biết, chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước vẫn ở mức cao nhất trong 3 năm gần đây (tăng 4,39%). Bên cạnh các yếu tố mùa vụ làm nhu cầu một số loại hàng hóa tăng đẩy giá tăng thì với quyền số tới 4,2% giá thịt lợn liên tục tăng cao chính là nguyên nhân làm CPI bình quân 5 tháng qua có mức tăng cao nhất trong 3 năm gần đây.

Cũng với quyền số chiếm 4,2%, nếu giá thịt lợn không xuống về mức như Chính phủ đã yêu cầu thì giá thịt lợn không chỉ là mối lo ngại cho việc kiềm chế lạm phát ở mức 4% như mục tiêu đề ra mà còn gây ảnh hưởng đến đời sống người dân, làm ảnh hưởng đến các chỉ tiêu vĩ mô.

Nhìn nhận về diễn biến CPI, TS. Nguyễn Đức Độ nói: Trong 5 tháng đầu năm, mặc dù giá thịt lợn neo ở mức cao, thậm chí còn tăng dẫn đến giá thực phẩm bình quân 5 tháng đầu năm 2020 vẫn tăng gần 14% so với cùng kỳ năm trước, nhưng may mắn là giá dầu đã giảm rất mạnh khiến cho giá giao thông giảm khoảng 7,5% trong cùng giai đoạn nên cũng cân đối được khá nhiều tác động từ giá thịt lợn đến lạm phát.

Theo quan sát của TS. Nguyễn Đức Độ, một yếu tố khác giúp kiềm chế lạm phát 5 tháng đầu năm 2020 là Covid-19 khiến cho giá nhiều hàng hóa tăng thấp, hoặc giảm như giá các hàng hóa thuộc lĩnh vực văn hóa, giải trí, du lịch. Điều này cũng được thể hiện qua việc lạm phát cơ bản tháng 5/2020 giảm 0,03% so với tháng trước và chỉ tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước.

“Bởi vậy, mặc dù CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2020 tăng 4,39% so với 5 tháng đầu năm 2019, nhưng vì lạm phát so với cùng kỳ năm trước chỉ ở mức 2,40%, nên lạm phát trung bình các tháng sau sẽ giảm dần”, TS. Nguyễn Đức Độ dự báo.

Nói về mục tiêu kiềm chế lạm phát và triển vọng, Phó Viện trưởng Nguyễn Đức Độ đưa ra 2 yếu tố cần quan tâm hiện nay:

Thứ nhất là giá xăng dầu tăng trở lại. Tuy nhiên, khả năng giá xăng dầu sẽ không tăng quá mạnh vì kinh tế thế giới còn yếu, chưa thể phục hồi hoàn toàn trong năm nay. Mặc dù vậy, để kiểm soát lạm phát dưới 4% Nhà nước vẫn cần xả Quỹ bình ổn xăng dầu, hiện có số dư tương đối lớn.

Thứ hai là giá thịt lợn. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến giá thịt lợn tăng là do thiếu cung, nên giải pháp cơ bản vẫn là tái đàn và tăng nhập khẩu.

“Về tổng thể, nếu giá xăng dầu không tăng quá mạnh và giá thịt lợn giảm dần trong những tháng tới, thì mục tiêu lạm phát dưới 4% vẫn đạt được”, TS. Nguyễn Đức Độ nhận định.

Cũng nhắc tới quyền số 4,2% của giá thịt lợn và tác động của giá thịt lợn tới CPI, TS. Nguyễn Tiến Thỏa – nguyên Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) và hiện là Chủ tịch Hội Thẩm định giá cho rằng giá thịt lợn cần phải được điều tiết, áp dụng các biện pháp bình ổn giá để "kéo" giá về mức hợp lý.

Quan điểm của vị chuyên gia uy tín về giá cả Nguyễn Tiến Thỏa là phải kéo giá lợn về mức hợp lý bằng các biện pháp kinh tế chứ không thể kéo được bằng mệnh lệnh hành chính hay cũng không trông chờ vào lời kêu gọi. Thực tế cho thấy giá lợn tăng bên cạnh nguyên nhân chênh lệch cung cầu thì nguyên nhân quan trọng là giá bị đẩy cao ở khâu phân phối lưu thông.

Bên cạnh đó, với rổ hàng hóa đại diện tính CPI hiện nay khoảng 654 mặt hàng thì để kiểm soát CPI theo mục tiêu đề ra, phải quan tâm điều tiết sự vận động của cả mặt bằng giá, chứ không chỉ giá thịt lợn. TS.Nguyễn Tiến Thỏa lưu ý đến cơ chế vận hành của thị trường đan xen kết hợp giữa thị trường tự điều tiết dưới tác động của quan hệ cung – cầu cộng với tác động của những giải pháp kinh tế mà Nhà nước thực hiện.

Và để giữ đạt mục tiêu lạm phát thì cần nhiều biện pháp khác tác động đến mặt bằng giá như: luôn bảo đảm cân đối cung cầu, chưa điều chỉnh giá những mặt hàng Nhà nước còn định giá, giữ bình ổn lãi suất, tỷ giá theo tín hiệu thị trường, giữ lạm phát cơ bản theo mục tiêu đề ra… Làm như vậy thị trường sẽ có những loại hàng hóa giá tăng, có loại giá giảm hợp lý bù trù cho nhau. “Và đó là thị trường”, Chủ tịch Hội thẩm định giá phát biểu.

Tổng cục Thống kê cho biết, lạm phát cơ bản tháng 5/2020 giảm 0,03% so với tháng trước và tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 5 tháng đầu năm nay tăng 2,88% so với bình quân cùng kỳ năm 2019.

Tri Nhân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.300 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.115 23.295 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.116 23.306 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.130 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.120 23.290 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.115 23.285 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.108 23..318 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.102 23.302 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.150 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.830
49.200
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.830
49.180
Vàng SJC 5c
48.830
49.200
Vàng nhẫn 9999
48.680
49.280
Vàng nữ trang 9999
48.280
49.080