Morgan Stanley: Lạm phát tại châu Á đã đạt đỉnh

07:59 | 17/08/2022

Theo Chetan Ahya - Nhà kinh tế trưởng châu Á tại Morgan Stanley, lạm phát ở châu Á đã đạt đỉnh so với các nền kinh tế lớn khác như Mỹ và châu Âu.

“Hoàn toàn có thể, lạm phát đã lên đến đỉnh điểm nếu bạn nhìn vào dữ liệu đã chỉ ra điều đó. Quan trọng hơn, trong tương lai, chúng tôi nghĩ rằng bạn sẽ thấy rủi ro giảm đối với lạm phát”, Chetan Ahya nói với "Squawk Box Asia" của CNBC.

“Lạm phát trung bình của châu Á đạt đỉnh 5,5% và nó đã giảm khoảng nửa phần trăm so với mức đỉnh đó - và con số này so với Mỹ đạt đỉnh 9% và ở châu Âu cũng là khoảng 8,5% và 9%”, ông nói thêm.

morgan stanley lam phat tai chau a da dat dinh
Ảnh minh họa

Ahya cho biết có rất ít dấu hiệu cho thấy nhu cầu quá nóng ở châu Á, đặc biệt là khi tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn dưới mức trước Covid đối với hầu hết các quốc gia. “Cách tôi mô tả tình trạng phục hồi ở châu Á là... hầu hết các nền kinh tế đang ở giai đoạn giữa chu kỳ. Tôi nghĩ đó là lý do quan trọng nhất tại sao chúng tôi cho rằng lạm phát sẽ được kiểm soát và các NHTW sẽ không phải đưa lãi suất chính sách vào phạm vi hạn chế sâu sắc”.

Tuần trước, Thống đốc NHTW Thái Lan Sethaput Suthiwartnarueput cho biết, cơ quan này không cần “thực hiện các đợt tăng lãi suất mạnh mẽ” vì nền kinh tế nước này dự kiến sẽ trở lại mức trước đại dịch vào cuối năm.

Nhà kinh tế Morgan Stanley cũng cho biết, nhu cầu hàng hóa là động lực chính gây ra lạm phát trên toàn cầu, đặc biệt là ở châu Á. “Nhưng hiện nhu cầu đang giảm”, Ahya lưu ý. Với việc cải thiện chuỗi cung ứng và hàng tồn kho tăng, kỳ vọng nhu cầu hàng hóa sẽ tiếp tục giảm trong những tháng tới. Ngoài ra, thị trường lao động của châu Á - không giống như ở Mỹ - không quá chặt, điều này đã giúp khu vực kiềm chế áp lực lạm phát, ông nói thêm.

Trong khi bức tranh lạm phát của châu Á có vẻ vẫn trong tầm kiểm soát, định chế này cho biết, triển vọng xuất khẩu vẫn còn yếu. “Những gì chúng ta cần xem xét từ quan điểm kinh tế, về tác động tăng trưởng - các con số tăng trưởng thực và số lượng thực đã giảm tốc xuống khoảng 1% đến 3% so với cùng kỳ năm ngoái” Ahya nói. “Con số này từng tăng khoảng 10%, chỉ khoảng 12 tháng trở lại đây. Chúng tôi đã chứng kiến sự giảm tốc lớn và chúng tôi nghĩ rằng triển vọng về xuất khẩu tốt cho châu Á có vẻ không tốt ”.

M.Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450