Mỹ: Cần chấp nhận tỷ lệ thất nghiệp cao hơn nữa mới có thể kiềm chế lạm phát

07:57 | 09/09/2022

Theo ước tính mới của một nhóm các nhà nghiên cứu, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ có thể phải tăng lên tới 7,5% - gấp đôi mức hiện tại (tương đương với khoảng 6 triệu người mất việc làm) - để chấm dứt được tình trạng lạm phát cao hiện nay.

Vào tháng 6 vừa qua, Fed dự báo tỷ lệ thất nghiệp trung bình sẽ chỉ cần tăng lên 4,1% vào cuối năm 2024 để giúp lạm phát quay trở lại mục tiêu 2% đặt ra. Tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 8/2022 là 3,7%.

"Nếu thị trường lao động không phản ứng (ý nói vẫn tốt như hiện tại), hoặc kỳ vọng lạm phát không phản ứng (ý nói kỳ vọng lạm phát vẫn cao) thì dự kiến về tỷ lệ thất nghiệp như của Fed đưa ra (chỉ tăng lên 4,1% vào cuối năm 2024) là không đủ (để đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2%). Vì thế, hoặc lạm phát sẽ tiếp tục cao hơn đáng kể, hoặc chúng ta phải chấp nhận sẽ có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn và kinh tế suy thoái đáng kể", Giáo sư kinh tế Laurence Ball của Đại học Johns Hopkins cho biết khi trình bày bản tóm tắt về nghiên cứu này được đưa ra tại hội nghị kinh tế của Viện Brookings mới đây.

my can chap nhan ty le that nghiep cao hon nua moi co the kiem che lam phat
Ảnh minh họa

Nghiên cứu này (còn có đồng tác giả là các chuyên gia kinh tế Daniel Leigh và Prachi Mishra của IMF) là một phần của cuộc tranh luận gay gắt hiện nay về mức độ chấp nhận "đau đớn" về kinh tế - như Chủ tịch Fed Jerome Powell gần đây đã nói về cụm từ này - sẽ lớn đến đâu để có thể kiểm soát được con ngựa lạm phát bất kham tại Mỹ hiện nay. Việc Fed đang tăng lãi suất với tốc độ nhanh nhất kể từ thời kỳ những năm 1980 gợi nhớ về những "đau đớn" mà kinh tế Mỹ phải trải qua giai đoạn đó.

Bốn thập kỷ trước đây, Chủ tịch Fed khi đó là ông Paul Volcker đã phải tăng lãi suất rất mạnh để kiềm chế lạm phát cao (có thời điểm vượt quá 14%). Nhưng thành công trong kiểm soát lạm phát cũng đi cùng với cái giá phải trả là kinh tế suy thoái kéo dài và khi các DN buộc phải điều chỉnh co hẹp do nền kinh tế chậm lại, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng vọt, vượt quá 10%.

Tất nhiên bối cảnh hiện nay khác với thời điểm đó, lạm phát cũng chưa đến mức quá cao như vậy và các quan chức Fed tin tưởng vẫn có thế “đánh bại” lạm phát thông qua thắt chặt tiền tệ mà nền kinh tế không phải trải qua suy thoái kéo dài hay có sự gia tăng đáng kể về tỷ lệ thất nghiệp.

Tuy không hoàn toàn loại trừ một kịch bản tích cực như vậy có thể xảy ra nhưng các tác giả của nghiên cứu này cho rằng, cuộc chiến chống lạm phát hiện nay chắc chắn sẽ kéo dài và khó khăn hơn, đồng thời tỷ lệ thất nghiệp cũng sẽ cao hơn dự kiến mà Fed đã đưa ra. Và rất có thể Fed sẽ “thừa nhận” những điều này trong các dự báo cập nhật của mình được ban hành trong hai tuần nữa.

Theo Giáo sư Laurence Ball và các đồng tác giả của nghiên cứu này, một trong những yếu tố quan trọng nhất để giúp lạm phát sớm được kiểm soát "một cách mạnh mẽ" là phải chấp nhận "sự gia tăng đau đớn và kéo dài tỷ lệ thất nghiệp". Con số cụ thể mà các nhà nghiên cứu tính toán như đã đưa ra ở trên, đó là chấp nhận tỷ lệ này sẽ phải tăng lên mức 7,5%.

Nhóm nghiên cứu cho rằng, chỉ khi đồng thời những giả định lạc quan nhất về hành vi của thị trường việc làm và lạm phát tại Mỹ cùng xảy ra thì Fed mới có thể chế ngự áp lực giá cả hiện nay thành công mà không phải chấp nhận “đau đớn” như họ đã tính toán với thị trường lao động.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450